Monday, May 2, 2011

Cờ Vàng Tung Bay trên Thành Phố Cần Thơ ngày 30 tháng 4 năm 2011

http://thanhniensinhviencantho.tuoitreyeunuoc.com/

Cờ Vàng Tung Bay trên Thành Phố Cần Thơ ngày 30 tháng 4 năm 2011

30/4/1975, ngày quốc hận ấy Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của người Việt quốc gia đã bị hạ xuống bởi những người Cộng Sản chiến thắng, từ ngày vắng bóng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ trên quê hương miền Nam Việt Nam thì ngày đó không còn tự do. Trong ngày Quốc Hận 30/04 thứ 36 năm nay, cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lại tung bay ở miền Tây do thanh niên sinh viên Cần Thơ treo lên ở thành phố Cần Thơ để nhớ lại những ngày sống trong không khí thanh bình của tự do của đời người.
Từ ngày lá cờ Đỏ Sao Vàng chiến thắng tung bay, là ngày mà người dân bắt đầu cuộc sống trong không khí đầy ngột ngạt, khó thở…thanh niên sinh viên Cần Thơ đâu có muốn hít thở không khí độc tài ngột ngạt ấy. Hôm nay những người Thanh Niên Sinh Viên Cần Thơ phải đi tìm không khí tự do ngày nào.
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ biểu tượng của tự do bay trên đường phố Cần Thơ sau 36 năm vắng bóng. Chắc đồng bào Cần Thơ tim đập mạnh hồi hộp khi thấy bóng dáng biểu tượng này…đừng ngạc nhiên sẽ có ngày cờ này tung bay trước mọi nhà, trên đường phố, lúc ấy tràn đầy không khí tự do để hít thở.
Ngày này, 36 năm về trước cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bị hạ xuống, giờ đây đang sừng sững trở về phất phới trên đường phố thơ mộng Cần Thơ. Thanh niên sinh viên Cần Thơ chỉ mong sao dân tộc Việt Nam được tự do và hạnh phúc. Tự do và hạnh phúc đích thực có được khi chế độ độc tài không còn ngư trị trên quê hương Việt Nam…mộng ước của tuổi trẻ bao giờ cũng ước mơ cho tương lai của dân tộc đi lên, mộng ước của người thanh niên sinh viên đến trường để mở rộng kiến thức, để có tầm nhìn ra xa thế giới văn minh không thể cúi đầu sống trong ao tù của nô lệ độc tài mãi mãi được…
Đêm nay cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay trên đường phố Cần Thơ là một biểu tượng tự do đang đến với đồng bào Cần Thơ, đang đến với người Việt….xin các bạn thanh niên sinh viên, xin mọi mọi người hãy đón nhận nó như một biểu tượng tự do chứ không phải của một kẻ thù như sự tuyên truyền thiếu lương thiện…
Lời của Thanh Niên Sinh Viên Cần Thơ treo Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ
Dưới đây là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tự do bay trên thành phố Cần Thơ 30/04/2011

Sunday, February 27, 2011

Tuesday, February 22, 2011

Trung Quốc cấm dịch vụ Twitter-Like To Stop The Spread Jasmine Revolution của Dân chủ

 
Theo sau cuộc biểu tình lớn ủng hộ dân chủ tại Trung Đông, Trung Quốc đang xem xét việc đàn áp nhiều hơn cho các "microblogs" và các dịch vụ Internet khác.
Vào ngày 12 , Trung Quốc của Bộ Chính trị đã tổ chức một cuộc họp khẩn cấp để "quyết định chiến thuật để đối phó với làn sóng dân chủ ở Trung Đông."
Trong số các chiến thuật thảo luận là tăng cường kiểm soát hơn "microblogs," diễn đàn thảo luận, và Internet công cụ truyền thông khác.
Cụ thể, Bộ Chính trị kết luận rằng "những nỗ lực để chỉ trích và kiểm soát microblogs phải được tăng mạnh, và các biện pháp cần được thực hiện trước để chuẩn bị cho khả năng là một phần của Internet sẽ bị đóng cửa."
Dưới đây là một đoạn trích của các ghi chú cuộc họp không chính thức Trung Quốc được đăng trên trang web tin tức Boxun và in lại trong NYOB :
 Các chương trình nghị sự cho cuộc họp là "để điều chỉnh chính sách đối ngoại" và mục đích chính là để quyết định chiến thuật để chống lại làn sóng dân chủ ở Trung Đông. Hội nghị đề ra mục tiêu sửa đổi cho cảnh sát và quân đội, nhưng nhấn mạnh ở đây là tuyên truyền. Hội nghị kêu gọi các Bộ và các cơ quan tuyên truyền của công ty con để làm như sau:
 -Ngăn chặn tất cả các báo cáo độc lập, bình luận, và thảo luận (bao gồm cả chủ đề Internet), dù trên báo hoặc Internet, về tình hình ở Ai Cập và những nơi tương tự;
  -Tăng cường làm việc trong lọc và quản lý blog, microblogs, và diễn đàn thảo luận;
-Đảm bảo rằng phương tiện truyền thông trong tất cả các địa điểm thống nhất tuân thủ các văn bản tiêu chuẩn của Thông tấn xã Trung Quốc mới trong bất kỳ báo cáo hoặc lời bình luận về Trung Đông.
Các chương trình nghị sự cho cuộc họp là "để điều chỉnh chính sách đối ngoại" và mục đích chính là để quyết định chiến thuật để chống lại làn sóng dân chủ ở Trung Đông. Hội nghị đề ra mục tiêu sửa đổi cho cảnh sát và quân đội, nhưng nhấn mạnh ở đây là tuyên truyền. Hội nghị kêu gọi các Bộ và các cơ quan tuyên truyền của công ty con để làm như sau:
  Cuộc họp quyết định, cũng như, rằng tất cả các tờ báo lớn thuộc Sở phải tăng cường tuyên truyền hướng dẫn của họ về ý kiến công chúng và căng thẳng với chủ đề mà cuộc khủng hoảng hiện thời "là âm mưu của Hoa Kỳ phía sau hậu trường." Đồng thời, những nỗ lực để chỉ trích và microblogs kiểm soát phải được tăng mạnh, và các biện pháp cần được thực hiện trước để chuẩn bị cho khả năng là một phần của Internet sẽ bị đóng cửa.  Sau cuộc họp, Trưởng tuyên truyền trên khắp đất nước đã được đưa ra một chỉ dẫn bổ sung để "giảm báo cáo về bất kỳ sự việc nhạy cảm có thể xảy ra ở miền địa phương của bạn."
Điều gì đã được rằng Malcolm Gladwell đã được chỉ là nói về cuộc cách mạng sẽ không được tweet?
Trong bất kỳ sự kiện, không phải tin tốt lành cho một số các cổ phiếu Internet Trung Quốc.

Sunday, February 13, 2011

Lính Việt Nam sẽ theo gương Ai Cập hay Trung Quốc? (VOA)

Những biến động ở Ai Cập hồi gần đây đã khiến nhiều người, đặc biệt là những người quan tâm tới triển vọng phát triển dân chủ ở Việt Nam, nêu lên câu hỏi “Khi nào Việt Nam sẽ có một phong trào xuống đường đòi dân chủ như vậy?” Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng là "Trong trường hợp xảy ra một cuộc biểu tình như cuộc biểu tình ở Cairo, liệu những người lính Việt Nam sẽ theo gương binh lính Ai Cập để không nổ súng vào người biểu tình hay họ sẽ bước theo vết xe đổ của quân đội Trung Quốc năm 1989 để dùng xe tăng súng máy bắn giết thường dân vô tội?" Mời quí vị theo dõi ý kiến của một số các nhà tranh đấu cho dân chủ Việt Nam về vấn đề này trong tiết mục Nhìn Về Á Châu do Duy Ái phụ trách.


Phỏng vấn TS Nguyễn Thanh Giang, Nhà văn Trần Trung Đạo, GS Đoàn Viết Hoạt, BS Nguyễn Đan Quế…


Những biến động ở Ai Cập hồi gần đây đã khiến nhiều người, đặc biệt là những người quan tâm tới triển vọng phát triển dân chủ ở Việt Nam, nêu lên câu hỏi “Khi nào Việt Nam sẽ có một phong trào xuống đường đòi dân chủ như vậy?” Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng là “Trong trường hợp xảy ra một cuộc biểu tình như cuộc biểu tình ở Cairo, liệu những người lính Việt Nam sẽ theo gương binh lính Ai Cập để không nổ súng vào người biểu tình hay họ sẽ bước theo vết xe đổ của quân đội Trung Quốc năm 1989 để dùng xe tăng súng máy bắn giết thường dân vô tội?” Mời quí vị theo dõi ý kiến của một số các nhà tranh đấu cho dân chủ Việt Nam về vấn đề này trong tiết mục Nhìn Về Á Châu do Duy Ái phụ trách.


VOA: Khả năng xảy ra một cuộc nổi dậy qui mô lớn, hòa bình để đòi cải cách chính trị ở VN?


Nguyễn Thanh Giang (Hà Nội): Dưới chế độ độc tài nói chung hay dưới một chế độ chuyên chế, công an trị, dự đoán khả năng và thời điểm mà nhân dân có thể vùng dậy là việc làm khó. Ngay trước ngày 9 tháng 11 năm 1989 không chỉ người ở các châu lục khác mà chính người Đức cũng không ngờ đêm đó bức tường Berlin sụp đổ; khi tổng bí thư đảng cộng sản Rumani lên đoạn đầu đài, ai có thể tưởng tượng nổi mới trước đó ít ngày bài diễn văn của ông ta trong đại hội đảng còn được vỗ tay đến hàng trăm lần.


Ở Việt Nam cách đây mươi năm nhân dân Thái Bình đã từng vùng dậy; cách đây một vài năm hết Thái Hà lại Tam Tòa và giáo xứ Vinh, rồi hàng vạn đồng bào Bắc Giang từng kéo đến xô đổ cổng công đường tỉnh… nhưng rồi đại hội XI Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn được tuyên bố là thành công rực rỡ.


Khả năng sắp hay chưa thể xẩy ra một cuộc nổi dậy quy mô lớn ở Việt Nam đều lớn như nhau. Xin nói rõ: Không phải đều như nhau, mà là đều lớn như nhau.


Duy yêu cầu đòi cải cách chính trị thì đã có và hiện đang trở nên hết sức bức thiết. Điều này không chỉ biểu hiện ở những người nông dân bị bọn tư bản đỏ câu kết với chính quyền cướp đất cướp ruộng, không chỉ biểu hiện ở những công nhân bị bóc lột làm cho cuộc sống bần cùng, cơ cực hơn công nhân ở các nước tư bản mà biểu hiện quyết liệt ngay trong giới elit của Đảng qua cuộc Hội thảo khoa học phê phán cương lĩnh Đảng do giáo sư Trần Phương, nguyên phó thủ tướng chủ trì, và đặc biệt là qua ý kiến phát biểu của nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An.


Cho nên, nổi dậy quy mô lớn trên đường phố thì chưa biết lúc nào xẩy ra nhưng nổi dậy trong lòng người thì đã ở tầm quy mô lớn.


Nguyễn Đan Quế (Sài Gòn): Từ tháng 1-2011 cho đến nay, làn sóng biểu tình đòi Dân Chủ dồn dập nổ ra ở một loạt các xứ Ả Rập như Tunisia, Algeria, Yemen, Sudan… và đặc biệt là Ai Cập, đang thôi thúc mạnh người dân Việt đứng lên đòi Nhân Quyền và Dân Chủ.


Và khả năng nổi dậy hòa bình có qui mô lớn trên toàn quốc để buộc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam phải tôn trọng Nhân Quyền và thực thi Dân Chủ là rất cao. Giới trẻ Việt Nam đang bảo nhau cách sử dụng điện thoại di động, email, Internet, Facebook, Twitter… để liên lạc, huy động, tổ chức, vào thời điểm thích hợp, đông đảo quần chúng xuống đường với khí thế để đòi Dân Chủ Hóa đất nước, giống như ở Ai Cập.


Điều đặc biệt đang diễn ra ở Ai Cập hiện nay là gì? Nếu không phải lần đầu tiên các siêu cường không khai thác các phe phái, xúi dục đối đầu nhau. Đa số đều đứng về phía Sức Mạnh Quần Chúng, kêu gọi chính quyền không đàn áp dân, và nhất là biểu đồng tình với thái độ trung lập của quân đội. Trung cộng không muốn xáo trộn trong nước mình, nhưng cũng không chống đối chuyển đổi Dân Chủ trong các nước Ả rập.


Theo tôi, một khi tổng nổi dậy nổ ra ở Việt Nam, Bắc Kinh vì quyền lợi hợp tác đa phương với các siêu cường khác sẽ: không những không thực tâm giúp Hà Nội, mà còn lũng đoạn thêm, làm suy yếu Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đến tình trạng bất lực phải nhượng bộ trước Sức Mạnh Quần Chúng đang dâng cao đòi quyền sống và Dân Chủ.


Đoàn Viết Hoạt (Virginia): Rất nhiều điều không thể tiên liệu trước được, ngay như ở Tunisie, Ai cập vừa qua. Tuy nhiên theo tôi, một cuộc nổi dậy qui mô lớn tại Việt Nam chỉ có thể xẩy ra khi có những điều kiện sau đây:


(1) Kinh tế suy thoái nghiêm trọng, vật giá gia tăng không kiểm soát được, đời sống dân chúng khó khăn, chính quyền gần như bất lực.


(2) Tỷ lệ thanh niên “nhàn rỗi” tại các thành phố lớn ngày càng cao: không có hoặc rất ít việc làm, dù hình thức nào, và cũng không vào được các trường đại học.


(3) Các nhóm chống đối hoạt động hữu hiệu, có tổ chức và phối hợp tốt, có phương tiện và kỹ thuật cao, vượt qua được an ninh, tận dụng được hệ thống thông tin điện tử, đưa ra các khẩu hiệu đáp ứng nguyện vọng quần chúng.


(4) Thành phần cấp tiến trong đảng Cộng Sản cân bằng và vượt trội về ảnh hưởng và lực lượng với thành phần bảo thủ.


Điều kiện 1 và 2 là mấu chốt, cho đến nay chưa có, hoặc chưa đủ, và do đó cần được theo dõi sát. Khi có 1 hoặc cả 2 tình trạng này thì chỉ cần một biến cố nhỏ cũng có thể tạo bùng nổ. Cho đến nay đã có nhiều nơi có biến động, nhưng không tạo bùng nổ chính trị qui mô rộng lớn vì chưa có điều kiện 1 và 2.


Theo tôi, trừ khi có những yêu tố bất ngờ khác, biến chuyển chính trị tại Việt Nam đi theo một lộ trình khác với Tunisie, Ai Cập. Ở những nước này không có một đảng cầm quyền như đảng Cộng Sản. Tôi cho rằng cuộc cách mạng mầu Việt Nam sẽ là một hợp thể của ít nhất 3 nhân tố: (1) đại đa số quần chúng bất mãn dù thầm lặng (hiện đã có); (2) phe chống đối ngày càng mạnh lên, hoạt động tích cực, bền bỉ (dù bị đàn áp), hữu hiệu, dưới mọi hình thức, chính trị và phi chính trị (hiện chưa đủ); và (3) thành phần và quan điểm cấp tiến trong ban lãnh đạo đảng Cộng Sản ngày càng thắng thế (hiện chưa đủ).


Đây là chưa kể đến các yếu tố bên ngoài tác động vào như kế hoạch bành trướng của Trung quốc, thay đổi tài trợ của quốc tế cho Việt Nam (vì không còn là nước nghèo), Hoa Kỳ gia tăng hoạt động tại vùng Đông Nam Á, người Việt hải ngoại tác động hữu hiệu hơn vào trong nước… Ba nhân tố chính đều cần thiết và tương quan với nhau trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam, một tiến trình không thể đảo ngược. Câu hỏi hiện nay không còn là dân chủ hay không mà là dân chủ như thế nào và bao giờ. Tất cả 3 biến số trên đều luôn luôn “động” nên các bên liên quan cần theo dõi sát để có thái độ và hành động thích ứng và kịp thời.


Trần Trung Đạo (Boston): Việt Nam hội đủ các điều kiện khách quan dẫn đến cuộc cách mạng dân chủ. Sau 36 năm trong chế độ độc tài toàn trị, những bất mãn chồng chất mỗi ngày một cao trong ý thức của mọi tầng lớp nhân dân. Tình trạng tham nhũng ngày càng tinh vi, lan rộng khỏi biên giới quốc gia làm nhục lây cho cả dân tộc. Lãnh thổ, lãnh hải bị chiếm đoạt và đe dọa.


Chính sách đổi mới của đảng trong những năm qua chỉ để ngăn cho ly nước khỏi tràn hơn là các canh tân căn bản mang lại lợi ích lâu dài cho đất nước. Sở dĩ đến hôm nay cách mạng chưa bùng nổ bởi vì các lý do chủ quan. Các phong trào dân chủ cần đặt đúng mục tiêu đấu tranh trong nhu cầu của đại đa số nhân dân, cần phối hợp nhịp nhàng hơn, trong và ngoài nước, để tạo nên một sức mạnh dân tộc tổng hợp.


Thực tế tại Tunisia và Egypt cho thấy người dân xuống đường không phải để biện minh hay phản đối các lý thuyết xa vời mà đơn giản chỉ vì các quyền lợi bản thân và gia đình họ bị xâm phạm quá mức chịu đựng. Dân chủ bắt đầu từ ổ bánh mì và tự do bắt đầu từ quyền được nói. Hosni Mubarak là một tổng thống tham quyền cố vị nhưng chưa hẳn tàn ác như đồ tể Joseph Mobutu hay Mengistu Haile Mariam. Tuy nhiên, dân Egypt vẫn xuống đường ồ ạt chỉ vì tình trạng thất nghiệp gần 10%, tham nhũng có hệ thống trong chính phủ và chênh lệch giàu nghèo sâu sắc.


Xã hội Việt Nam băng hoại hơn Egypt nhiều bởi vì tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng. Tóm lại, cách mạng dân chủ tại Việt Nam là một biến cố không tránh khỏi nhưng nhanh hay chậm tùy sự tác động từ các yếu tố chủ quan như đã trình bày.


VOA: Nếu xảy ra một sự việc như vậy, quân đội VN sẽ theo gương Trung Quốc để đàn áp như vụ Thiên an môn 1989, hay họ sẽ làm như quân đội Ai Cập hiện nay?


Nguyễn Thanh Giang: Mặc dù những người lãnh đạo trâng tráo đến mức bác bỏ cả khẩu lệnh của Hồ chủ tịch “Quân đội ta trung với nước, hiếu với dân” để nhồi sọ khẩu lệnh “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân” nhưng tin chắc rằng quân đội nhân dân Việt Nam dứt khoát sẽ không tàn sát đồng bào mình như Thiên An Môn. Ngay đối với Trung Quốc, ngày nay, tin rằng những người lãnh đạo cộng sản kia cũng không thể nào xua quân đội đi làm một Thiên An Môn thứ hai.


Tôi vững tin vào những người lính Việt Nam ngày nay bởi biết rằng không phải họ chỉ đã nhìn thấy những tấm gương ở Thái Lan, ở Tunisie, ở Ai Cập… mà gương xấu của những người lãnh đạo nói một đường, làm một nẻo và lạm dụng quyền hành để tham những, để bóc lột… làm cho họ không dại gì lấy máu đồng bào mình mà dâng hiến cho những “lý tưởng” lăng nhăng, lường gạt.


Nguyễn Đan Quế: Nhiều khả năng ở Việt Nam quân đội cũng sẽ đứng trung lập, theo gương của quân đội Ai Cập.


Cách xử sự của quân đội Ai Cập, không những không đàn áp mà còn ủng hộ đòi hỏi Dân Chủ của người dân, chắc chắn lúc có biến sẽ làm giới quân nhân Việt Nam suy nghĩ rất nhiều khi ra tay đàn áp: Đứng về phía đồng bào để được trọng thị, yêu quí; hay mù quáng tuân lệnh Bộ Chính Trị ĐCSVN bắn vào đám đông biểu tình, trong đó có bố mẹ anh chị em mình, để rồi bị mọi người phỉ nhổ. Lúc đó ai chịu? Lúc đó ai thương?


Ngoài ra, hai siêu cường Mỹ – Trung, có ảnh hưởng khá lớn trong hàng ngũ tướng lãnh Hà Nội, có thể thủ giữ vai trò quan trọng trong việc khuyến khích quân đội có thái độ trung lập.


Cuối cùng, tôi muốn nói thêm là:


Trên chính trường thế giới ngày nay, năm trung tâm quyền lực kinh tế đang lộ diện. Đó là: Mỹ, Nhật, Đức với Cộng đồng Âu Châu EU, Nga & Trung Cộng (năm thủ đô đều nằm về Bắc bán cầu).


Năm siêu cường đang đi vào thế hợp tác trong Chiến Lược Toàn Cầu Đa Phương Mới để:


- một mặt, giữ vững thế của nước giầu đối với nước nghèo, loại trừ khủng bố, giữ vững an ninh thế giới cùng phát triển;


- mặt khác, chuyển giao kỹ-nghệ-hoá cho các nước nghèo (đa số ở Nam bán cầu) nhằm lấp bớt hố xa cách giầu – nghèo, với mẫu số chung là “phát triển và Dân Chủ phải song hành”.
Nói cách khác, thế giới đang đi vào Hợp Tác Bắc – Nam.


Trước tình hình thế giới đã và đang thay đổi lớn như vậy, tôi nghĩ là quân đội và chính phủ Cộng Sản Việt Nam khó lòng thẳng tay đàn áp người dân như Trung Cộng đã làm ở Thiên an môn năm 1989.


Đoàn Viết Hoạt: Quân đội ở Ai cập không đảo chánh nhưng cũng không đàn áp người biểu tình. Muốn xẩy ra như vậy ở Việt Nam, thành phần cấp tiến trong đảng CS phải mạnh hơn thành phần bảo thủ thân Trung Quốc và ảnh hưởng được quân đội. “Tự diễn biến” trong đảng Cộng Sản không đủ để đem đến dân chủ, nhưng khi có nổi dậy qui mô lớn của quần chúng thì nhờ “tự diễn biến” mà quân đội có thể “trung lập”. Công an thì khó hơn nhưng dễ bị quân đội vô hiệu hóa. Hiện có hai yếu tố đang cản trở diễn tiến này:


(1) nhiều cơ quan và lãnh đạo quân đội được chia chác quyền lợi kinh tế thương mại; (2) Tổng bí thư đảng là bí thư quân ủy trung ương. Hiểm họa bành trướng Trung Quốc và lòng yêu nước cần được đề cao để chuẩn bị cho việc vận động quân đội khi có biến động.


Trần Trung Đạo: Tôi không nghĩ giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam dám ra lịnh cho quân đội tàn sát nhân dân như Đặng Tiểu Bình đã làm và dù có được lịnh, quân đội cũng sẽ không tuân theo chỉ thị của lãnh đạo đảng.


Các lãnh đạo đảng không dám vì họ biết trời đất rộng bao la nhưng khó tìm đâu ra một chỗ dung thân. Không giống như số phận Amin Dada của Uganda, Siad Barre của Somalia sau khi bị lật đổ đã được các độc tài khác bao che cho đến cuối đời, trong thời đại toàn cầu hóa, bang giao quốc tế được mở rộng và các công pháp quốc tế đã được tôn trọng, số phận các nhà độc tài cũng khác. Sự kiện Charles Taylor của Liberia đang bị giam giữ tại The Hague và al-Bashir của Sudan vừa bị tòa án quốc tế truy tố dù đang là tổng thống là những bài học sống mà họ phải thuộc.


Về phía quân đội, những người lính tại Việt Nam ngày nay không phải là những người xích chân vào nòng đại pháo như trước 1975 nhưng đã có ý thức dân tộc, đã quá đắng cay khi nghe đi nghe lại khẩu hiệu rỗng “độc lập, tự do, hạnh phúc”, và đã hiểu những xương máu mà các thế hệ đàn anh đổ xuống ở miền Nam chỉ làm giàu cho một thiểu số lãnh đạo đêm nệm ấm chăn êm trong các biệt thự nguy nga, ngày sống dư thừa trong các nhà hàng sang trọng.


Phục vụ trong guồng máy, người lính phải quay theo guồng máy nhưng nếu có cơ hội đứng về phía dân tộc họ sẽ đứng về phía dân tộc. Cách mạng dân chủ tại Việt Nam nay mai chẳng những sẽ không có tiếng súng, không có giết chóc, không có cốt nhục tương tàn mà còn diễn ra rất nhanh chóng, bởi vì đại đa số người Việt đang bùng cháy trong lòng một ao ước giống nhau là mong được thấy quê hương hồi sinh và thăng tiến.

Ai Cập : khi một dân tộc thức tỉnh, độc tài sẽ sụp đổ

Thanh Phuong (RFI)


Không chỉ cả thế giới, mà ngay chính người dân Ai Cập cũng không ngờ là một ngày nào đó họ có thể lật đổ được Hosni Mubarak, sau ba thập niên sống dưới chế độ độc tài. Trong 18 ngày qua, mặc dù bị chính quyền đàn áp đẫm máu, nhưng phong trào biểu tình vẫn không thuyên giảm, với niềm tin sắt đá là họ sẽ thắng.
Vì sao dân Ai Cập, vốn vẫn ngủ quên như những pho tượng nhân sư, nay đã thức tỉnh như vậy ? Muốn hiểu được điều đó phải trở ngược về tháng 6 vừa qua, với vụ cảnh sát Ai Cập đánh chết một thanh niên 28 tuổi, Khaled Said. Anh này đã bị hai cảnh sát mật vụ câu lưu trong một quán cà phê Internet vì đã phổ biến trên mạng một đoạn băng vidéo tố cáo nạn tham nhũng trong ngành cảnh sát. Vì không chịu trình giấy tờ tùy thân, Khaled Said bị cảnh sát lôi ra ngoài đường đánh đập dã man, đầu bị dập nát.
Được lan tuyền rộng rãi qua mạng xã hội Facebook, thông tin nói trên đã ngay lập tức dấy lên một phong trào biểu tình với sự tham gia của hàng ngàn bạn trẻ, được sự ủng hộ của giới trí thức văn nghệ sĩ, trong cũng như ngoài nước. Các cuộc biểu tình đã nhanh chóng bị dập tắt, nhưng tinh thần phản kháng vẫn âm ỉ cho đến gần đây, trước khi chuyển thành phong trào biểu tình rầm rộ, mà nay có người gọi là "cách mạng Hoa Sen", ( hoa sen là một trong những biểu tượng của Ai Cập cổ ), trong đó Khaled Said đã hình ảnh tiêu biểu.
Thật ra trong quá khứ, dân Ai Cập cũng đã từng xuống đường bốn lần, nhưng vì những lý do khác, chủ yếu là do nghèo đói, nhưng lần này là cuộc cách mạng vì tự do, dân chủ, với ý thức rằng chỉ khi nào người dân nắm vận mệnh đất nước trong tay, cuộc sống của họ mới khá hơn.
Trong 18 ngày qua, mặc dù bị chính quyền đàn áp đẫm máu, với hàng trăm người chết, phong trào biểu tình vẫn không thuyên giảm, thậm chí còn lan rộng từ thủ đô Cairo ra các vùng khác. Mỗi ngày, hàng trăm ngàn người vẫn xuống đường một cách bình thản, nhưng với niềm tin sắt đá là họ sẽ thắng. Không những thế, trong những ngày cuối, phong trào đấu tranh chính trị này còn có sự tiếp sức của các phong trào đấu tranh xã hội của nhiều giới, từ nhân hỏa xa, công nhân dệt may, cho đến bác sĩ.
Trước làn sóng ngày càng lớn mạnh này, tổng thống Bubarak đã lùi từng bước, ban đầu hứa sẽ không tái tranh cử, rồi sau đó loan báo giao quyền cho phó tổng thống Suleiman, nhưng cả triệu người hôm qua vẫn duy trì áp lực tối đa. Có lẽ là cộng thêm sức ép của quân đội, cuối cùng Mubarak đã buộc phải từ bỏ chiếc ghế tổng thống.
Như đã nói ở trên, "cách mạng Hoa Sen" ở Ai Cập đã khởi đầu từ giới trẻ và cũng chính giới trẻ đã là đầu tàu trong suốt cuộc đấu tranh này. Có học thức, chịu ảnh hưởng nhiều từ thế giới bên ngoài, giới trẻ Ai Cập đã biết khai thác các phương tiện công nghệ thông tin như mạng xã hội Facebook làm vũ khí chống chế độ Mubarak. Ngay chính báo chí của chính phủ Ai Cập hôm nay cũng thừa nhận rằng : "Giới trẻ Ai Cập đã buộc Mubarak ra đi", như tựa của tờ báo Al-Ahram.
Một điều đáng chú ý, đây là lần đầu tiên có một cuộc cách mạng quần chúng mang tính ôn hòa ở Ai Cập, mà kể từ khi chế độ quân chủ bị lật đổ vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân đội. Điều mà các nhà quan sát sợ nhất đã không xảy ra, tức là sự nội bùng tại một quốc gia cảnh sát trị, nơi mà người dân ngày càng bất mãn vì thất nghiệp, nghèo đói, bất công, trong khi gia đình Mubarak vơ vét mọi tài sản quốc gia.
Tất nhiên, cách mạng chưa phải là kết thúc ở đây, vì chưa ai biết rõ về thái độ của quân đội Ai Cập, nay đang nắm quyền lãnh đạo thông qua một hội đồng quân sự. Trách nhiệm của quân đội Ai Cập rất lớn lao : vừa bảo đảm ổn định, vừa đáp ứng khát vọng dân chủ của nhân dân. Liệu họ có bảo đảm cho cho tiến trình chuyển tiếp dân chủ diễn ra êm thắm hay không ? Chúng ta hãy chờ xem.
Người dân Ai Cập hôm nay vui mừng vì đã thoát khỏi ách độc tài, nhưng cũng đang lo lắng nhìn về tương lai. Tuy vậy, trước mắt họ có thể tự hào đã làm nên cách mạng tại quốc gia Ả rập đông dân nhất. Sau Tunisie, nay đến Ai Cập, các chế độ độc đoán khác, trong thế giới Ả rập và trên thế giới nói chung, nay đang rung sợ sẽ đến lượt mình.

Friday, February 11, 2011

Cựu chủ tịch quốc hội Việt Cộng bàn về sửa đổi hiến pháp

Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An hi vọng lần sửa đổi Hiến pháp này sẽ bàn kĩ 3 vấn đề cốt lõi: Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp để đúng nghĩa là người chủ đất nước; Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn; Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước cần được cân bằng hơn để phòng ngừa lạm quyền và thoái hóa quyền lực.
LTS: Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường mới đây khẳng định: đã đến thời điểm chín muồi để sửa đổi Hiến pháp và tư tưởng pháp quyền buộc phải có cách thức viết Hiến pháp khác, không thể "ôm đồm", "dài dòng" như hiện nay. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam lược ghi lại cuộc trò chuyện với nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về việc sửa đổi Hiến pháp 1992 sắp tới.
>> Thời điểm chín muồi sửa Hiến pháp
Dân phải được phúc quyết Hiến pháp
Sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội sinh hoạt chính trị dân chủ sâu rộng trong toàn dân, toàn dân có được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ tham gia ý kiến và phúc quyết hay không?
Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi hy vọng là như vậy.
Nếu nhân dân không được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì chúng ta lại bỏ lỡ mất cơ hội vô cùng quan trọng.
Kinh nghiệm các lần sửa đổi Hiến pháp trước đây là như vậy. Chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi song chưa đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân, nhân dân chưa có quyền phúc quyết Hiến pháp mà lẽ ra quyền phúc quyết Hiến pháp là quyền đương nhiên của người dân dưới chế độ dân chủ cộng hòa.
Trước tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi mà vẫn chưa đạt yêu cầu. Nếu tính từ năm 1946 đến 1992 là 46 năm, ta đã sửa đổi lớn 3 lần vào các năm 1959, 1980 và 1992. Đó là chưa kể nhiều lần chúng ta sửa đổi nhỏ khác.
Sửa đổi như vậy là nhiều lần rồi, song dân chưa được phúc quyết lần nào. Hiến pháp 1946 quy định dân phúc quyết Hiến pháp song dân cũng chưa được phúc quyết vì chiến tranh đã xảy ra ngay sau đó.
Còn Hiến pháp sửa đổi 1959 lại quy định Quốc hội có quyền lập Hiến và lập Pháp. Thay đổi quan trọng đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất khả kháng là đất nước trong tình trạng chiến tranh và chia cắt hai miền Nam - Bắc; rồi chịu ảnh hưởng của mô hình cộng hòa Xô Viết,...
Tuy vậy, chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa là quyền lập hiến phải thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.

Nguyên Chủ tịch QH Nguyễn Văn An.
Cho nên, không thể đặt Hiến pháp ngang hàng với các bộ luật khác do Quốc hội thông qua. Hiến pháp là bộ luật cơ bản, luật gốc, luật mẹ được Quốc hội lập hiến thông qua và nhân dân phúc quyết nên rất ổn định, đặc biệt là những vấn đề cơ bản của Hiến pháp, như thể chế chính trị, ai là chủ đất nước, quyền của người chủ đất nước là những gì; ai là nguyên thủ quốc gia, quyền của nguyên thủ quốc gia là những gì?; vấn đề phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước...
Ai là chủ đất nước?
Thứ hai, tôi cho rằng các lần sửa đổi Hiến pháp sau này có một vài vấn đề cốt lõi lại xa rời hoặc lại không rõ ràng bằng Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có nhiều vấn đề, ở đây tôi chỉ đề cập tới 3 vấn đề cốt lõi:
Đầu tiên, Hiến pháp phải làm rõ AI LÀ CHỦ ĐẤT NƯỚC? NGƯỜI CHỦ ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ? Với câu hỏi này, có thể nhiều người sẽ nói ngay rằng Dân làm chủ chứ ai. Đúng. Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp và Pháp luật của nhà nước đều khẳng định như vậy. Quốc hiệu của Việt Nam đã ghi rất rõ: "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Thể chế chính trị là Dân chủ Cộng hòa, khác hoàn toàn với Quân chủ.
Do vậy, người chủ đất nước không phải là Vua nữa mà chính là Dân (không phân biệt thành phần, giới tính, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo...).
Song quy định cụ thể về quyền làm chủ trực tiếp của người dân thì còn quá ít, nhất là quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thì các Hiến pháp sửa đổi sau này lại ghi khác hoàn toàn với Hiến pháp năm 1946:
Điều 21 của Hiến pháp 1946 quy định: "Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều 32 và Điều 70".
Điều 32 của Hiến pháp 1946 quy định: "Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tống số nghị viện đồng ý".
Điều 70 của Hiến pháp 1946 quy định: "Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây... Khi được nghị viên ưng chuẩn, phải đưa ra toàn dân phúc quyết".
Những quy định trên đây của Hiến pháp 1946 có nghĩa rằng quyền lập Hiến hoàn toàn thuộc về toàn dân, thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.
Hiến pháp 1946 không có một điều nào, một ý nào quy định quyền lập Hiến thuộc về Quốc hội.
Các Hiến pháp sửa đổi sau này laị quy định Quốc hội có quyền lập Hiến:
Điều 43, 44 và 50 của Hiến pháp 1959 ghi: "Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", là cơ quan duy nhất "có quyền lập Pháp", có quyền "làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp".
Điều 6 của Hiến pháp 1980 quy định: "Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân".
Điều 82 của Hiến pháp 1980 và Điều 83 của Hiến pháp 1992 quy định: "Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập Pháp"...
Chúng ta nhận thấy ngay rằng đã có sự thay đổi rất lớn, rất cơ bản về quyền lập Hiến từ Dân đã được chuyển sang Quốc hội.
Câu hỏi đặt ra là ai có quyền chuyển quyền đó? Câu trả lời rõ ràng là chỉ có Dân mới có quyền đó. Song Dân chưa có văn bản nào chuyển quyền lập Hiến của Dân sang Quốc hội cả, mà là do chính Quốc hội tự quyết định giao quyền lập Hiến cho mình.
Có thể nói đơn giản thế này: Ai là người có quyền tối hậu trong lập Hiến thì người đó là người chủ đích thực của đất nước. Từ chỗ Dân làm chủ trực tiếp trong lập Hiến, chuyển sang chỗ Dân làm chủ gián tiếp thông qua Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Dân. Như vậy có thể nói, từ Dân làm chủ đích thực chuyển sang Quốc hội thay mặt cho dân làm chủ.
Đó là sự thay đổi, sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước.
Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi.
Dân làm chủ có nghĩa là Dân phải quyết trực tiếp thể chế quốc gia, tức là Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, rồi Dân giao cho Nhà nước và giám sát Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ và Tòa án) quản lý đất nước theo Hiến pháp và những quyết định đó của Dân. Như vậy Dân mới làm chủ đích thực.
Đây là vấn đề xa rời bản chất dân chủ của nhà nước, cả về pháp lý, cả về thực tiễn. Như trên đã nói, do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân bất khả kháng, vì vậy, chúng ta đã chuyển từ Dân chủ thành Quốc hội chủ. Song về thực chất thì Quốc hội cũng còn nhiều hình thức.
Hiện nay khoảng 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Do vậy mà nhiều người cho rằng, về hình thức thì Quốc hội quyết, song thực chất là Đảng quyết . Quyết định của Quốc hội chỉ là quyết định mở rộng trong nội bộ Đảng. Như vậy là từ Dân chủ đầy đủ chuyển sang Quốc hội chủ một phần, Dân chủ một phần, song cả Dân và Quốc hội đều còn nhiều hình thức nên nhiều người cho rằng Đảng mới thực quyền. Thực tế đó cho thấy, quyền của Dân - của người làm chủ còn bị phân tán quá lớn.
Nói cho dễ hiểu, ai làm chủ đất nước thì người đó phải có hai điều kiện, hai quyền thực chất tối thiểu là:
a/ - Bầu cơ quan đại diện cao nhất cho mình (Quốc hội) để bầu cử ra các cơ quan Nhà nước,
b/ - Phúc quyết Hiến pháp để giao quyền của Dân cho các cơ quan Nhà nước thực thi.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chúng ta nói nhiều về Dân chủ, rằng nhân dân ta là người chủ đích thực của đất nước, rằng nhà nước ta là nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân,... song những quyền tối hậu của người Dân thì lại chưa được quy định cụ thể và đầy đủ trong các Hiến pháp sửa đổi sau Hiến pháp 1946.
Ngay Hiến pháp 1946 tuy đã qui định rất rõ quyền lập Hiến thuộc về nhân dân, song cũng không thực hiện được trong thực tiễn vì lý do bất khả kháng là chiến tranh đã nổ ra ngay sau đó.
Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nhân dân ta là người chủ đất nước, song Nhà nước ta chưa một lần nào hỏi ý kiến Dân với tính chất là trưng cầu dân ý cả. Nhân dân ta chủ yếu mới làm chủ gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện như Quốc hội và HĐND các cấp, nhân dân mới làm chủ trực tiếp trong bầu cử trưởng thôn, bầu cử đại biểu QH và HĐND các cấp. Như vậy chưa đúng với quyền và nghĩa vụ của người Dân trong thể chế Dân chủ Cộng hòa trong điều kiện hòa bình và thống nhất đất nước như hiện nay.
Nếu Dân được phúc quyết Hiến pháp thì Hiến pháp chính là văn bản pháp lý quan trọng nhất của Dân trao quyền lực của Dân cho Nhà nước.
Ngược lại, nếu Dân chưa được phúc quyết Hiến pháp thì cũng có nghĩa là Dân chưa trao quyền lực của Dân cho Nhà nước bằng một văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp.
Sửa đổi Hiến pháp lần này cần giao lại quyền phúc quyết cho dân như Hiến pháp 1946 đã quy định cho đúng với bản chất của thể chế cộng hòa hoặc dân chủ cộng hòa, hoặc cộng hòa xã hội chủ nghĩa.
Quyền lực của nguyên thủ quốc gia bị phân tán 3 nơi
Vấn đề thứ hai là việc xác định: AI LÀ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA? VÀ NGƯỜI ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ?
Vấn đề này Hiến pháp 1946 ghi rất rõ, và Nhà nước ta khi đó thực hành cũng rất tốt.
Các Hiến pháp sửa đổi sau này lại không rõ ràng bằng Hiến pháp 1946, và trong thực hành cũng rất lúng túng.
Theo quy luật tự nhiên, đàn chim bao giờ cũng có chim đầu đàn, đàn trâu bao giờ cũng có trâu đầu đàn, dàn nhạc phải có nhạc trưởng,... Với một quốc gia cũng vậy, quốc gia nào cũng phải có một nguyên thủ.
Về quy định này, tại Điều 49 của Hiến pháp 1946 ghi cụ thể về quyền của Chủ tịch Nước như sau:
a, Thay mặt cho Nước...
b, Giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc...
c, Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng....
d, Chủ tịch Hội đồng Chính phủ ...
...................
h, Ký hiệp ước với các nước....
Và Điều 50 của Hiến pháp 1946 cũng ghi: "Chủ tịch Nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc".
Những quy định của Hiến pháp 1946 rất ngắn gọn, rõ ràng rằng Chủ tịch Nước là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho Nhà nước về đối nội, đối ngoại; thống lĩnh các lực lượng vũ trang; và cũng là người đứng đầu cơ quan hành pháp là Chính phủ.
Nói cho dễ hiểu, nguyên thủ quốc gia phải có ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu như sau:
a, Thay mặt cho Nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại,
b, Đứng đầu cơ quan hành pháp,
c, Thống lĩnh lực lượng vũ trang,
Các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) đều giảm nhẹ vai trò của Chủ tịch Nước, không rõ thực chất quyền của một nguyên thủ quốc gia. Điều đó không phải lỗi của vị Chủ tịch nước nào, mà chẳng qua là do các Hiến pháp sửa đổi sau này quy định như vậy:
Điều 6 của Hiến pháp 1959 quy định: "Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người thay mặt cho Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về đối nội và đối ngoại".
Điều 65 của Hiến pháp 1959 quy định: "Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống lĩnh các lực lượng vũ trang trong toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng", song thực chất Tổng Bí thư mới là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang.
Điều 66 của Hiến pháp 1959 quy định: "Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và Chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ". Quy định như vậy là làm giảm nhẹ hẳn vai trò của Chủ tịch Nước trong cơ quan hành pháp so với Hiến pháp 1946.
Như vậy, các Hiến pháp sửa đổi sau này đều quy định không rõ ràng và không tập trung quyền của Chủ tịch nước bằng Hiến pháp 1946. Rõ ràng không có ai hội đủ ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu của một nguyên thủ quốc gia như Hiến pháp 1946.
Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang song về pháp lý lại không thay mặt cho nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại, cũng không đứng đầu cơ quan hành pháp.
Thủ tướng Chính phủ đứng đầu Chính phủ nhưng lại không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp và cũng không thống lĩnh lực lượng vũ trang.
Chủ tịch Nước thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng trong thực tiễn lại không thống lĩnh lực lượng vũ trang, cũng như không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay rằng quyền lực của một nguyên thủ quốc gia lại bị phân tán làm ba nơi, do ba người nắm giữ. Tức là ta có ba người thực thi quyền của một nguyên thủ trong điều hành thực tiễn, như thế có phân tán quyền của nguyên thủ quốc gia không? Tôi cho là quá phân tán.
Tới đây, chúng ta phải sửa đổi bổ sung Hiến pháp làm sao để chỉ có một nguyên thủ quốc gia, tập trung quyền hành pháp vào người đứng đầu để điều hành đất nước có hiệu lực và hiệu quả hơn.
Việc không rõ nguyên thủ quốc gia, không rõ con chim đầu đàn, không rõ nhạc trưởng, hậu quả thế nào thật dễ hiểu, dễ thấy.
Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước
Cuối cùng là VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC. Phân công phải hướng tới cân bằng tương đối, phải rõ ràng, rành mạch; kiểm soát phải có chế tài, phải chặt chẽ, hiệu lực.
Phân công phải cân bằng thì mới có khả năng kiểm soát hiệu lực, kiểm soát hiệu lực nằm ngay trong sự phân công công bằng.
Nhìn lại lịch sử của thể chế quân chủ cho thấy, quyền lực tập trung vào nhà Vua, mà quyền lực bao giờ cũng có xu hướng lạm quyền, thoái hóa... Do đó mà triều đại nào lên, lúc đầu thường là được lòng người, sau lại thoái hóa, lại bị triều đại sau thay thế. Những sự thay thế đó thường diễn ra khi triều đại cũ đã quá thối nát, quá cản trở sự phát triển của xã hội và thường bị thay thế bằng bạo lực.
Chính vì thế mà thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa đã áp dụng sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực để chống độc quyền, hạn chế sự lạm quyền và khi cần thì thay thế ê kíp cầm quyền một cách chủ động, kịp thời, thông qua tranh cử nghị viện.
Quyền lực dưới thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa không tập trung vào một người hay một lực lượng, cơ quan nào, mà phân công tương đối cân bằng cho ba cơ quan: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp (Quốc hội - Chính phủ - Tòa án): Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, và Tòa án là cơ quan xét xử cao nhất.
Nghiên cứu kỹ các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) thì thấy rằng những quy định để cân bằng và kiểm soát quyền lực lại không được rõ ràng và cân bằng như Hiến pháp 1946.
Ví dụ, Quốc hội có quyền lập Hiến, điều đó có nghĩa rằng quyền lực của Quốc hội vượt trội quá lớn so với các cơ quan hành pháp và tư pháp. Quốc hội có quyền phân công quyền lực cho cả các cơ quan hành pháp và tư pháp, và cho cả chính mình.
Đúng ra, quyền lập Hiến phải là quyền của Dân chứ không phải của Quốc hội. Do đó mà quyền của Dân cũng bị phân tán và yếu thế, không đúng với quyền của người làm chủ.
Hoặc quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ở ba nơi, điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của cơ quan hành pháp quá yếu thế so với cơ quan lập pháp.
Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp và còn bị chi phối trong xét xử.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, phân công quyền lực không cân bằng, không rõ ràng thì sự kiểm soát sẽ không có hiệu lực và hiệu quả. Tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu, cơ hội là những biểu hiện của sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực rõ ràng nhất. Nó cũng là hậu quả của sự phân công và kiểm soát quyền lực chưa được cân bằng như quy định của Hiến pháp 1946.
Cân bằng và kiểm soát quyền lực là một cơ chế cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp nhằm tránh sự lạm quyền và thoái hóa mà trong thể chế quân chủ chuyên chế đã bất lực. Tất nhiên không thể nói tuyệt đối được, vì thể chế nào cũng phải thông qua con người cụ thể. Nhưng có một cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực cho ba cơ quan Nhà nước, sẽ tốt hơn rất nhiều so với cơ chế tập trung quyền lực vào một ông vua, hoặc vào bất kỳ một lực lượng, một cơ quan nào khác.
Cân bằng và kiềm soát quyền lực là một sự tiến bộ về khoa học và nghệ thuật cầm quyền, là một bước tiến của văn minh nhân loại về quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, sửa đổi bổ sung Hiến pháp lần này phải quan tâm để làm rõ ràng hơn, hoàn thiện tốt hơn sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.
Tóm lại, ở đây nhấn mạnh có ba vấn đề cốt lõi cần được bàn kỹ trong đợt sửa Hiến pháp tới đây:
1/- Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, để cho đúng nghĩa với thể chế Dân chủ Cộng hòa, Dân là chủ đích thực của đất nước.
2/- Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan hành pháp.
3/- Phân công và kiểm soát quyền lực cần được cân bằng hơn, nhằm phòng ngừa sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và cơ hội trong hệ thống chính trị.
Tôi hy vọng tới đây, nhân dân ta sẽ được hưởng quyền và làm nghĩa vụ của người chủ đích thực của đất nước là: Tham gia ý kiến và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này.
  • Thu Hà (lược ghi)

Ân Xá Quốc Tế đòi không đưa Linh mục Nguyễn Văn Lý trở lại nhà tù

Tro.ng Nghi~a (RFI)

Ngày 15 tháng ba sắp tới là ngày mà Linh Mục Công giáo Nguyễn Văn Lý hết hạn được tại ngoại một năm để chữa bệnh. Trong bối cảnh sức khỏe của ông rất yếu, vào hôm qua, tổ chức bảo vệ nhân quyền Amnesty International đã chính thức phát động phong trào vận động để ông không phải trở lại nhà giam. Ân Xá Quốc tế cũng đề nghị kêu gọi chính quyền Việt Nam  “Trả tự do cho cha Lý ngay lập tức và vô điều kiện".

Trong một bản thông báo khẩn cấp, tổ chức bảo vệ nhân quyền trụ sở tại Anh Quốc đã kêu gọi mọi người viết thư cho hai bộ trưởng bộ Ngoại giao và bộ Công An Việt Nam, nội dung yêu cầu chính quyền Việt Nam không đưa cha Lý trở lại nhà tù khi thời hạn tạm hoãn thi hành án của ông kết thúc vào tháng 3 tới đây.
Ân xá Quốc tế cũng đề nghị kêu gọi chính quyền Việt Nam :  “Trả tự do cho cha Lý ngay lập tức và vô điều kiện vì ông là một tù nhân lương tâm, bị bắt chỉ vì thể hiện niềm tin của mình một cách bất bạo động’’. Bản thông cáo của Ân xá Quốc tế nhắc lại rằng Linh mục Công giáo Nguyễn Văn Lý là một người đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam.
Ông là một trong những sáng lập viên của Khối 8406, đồng thời chủ trương một tờ báo bị cấm mang tên Tự Do Ngôn luận. Ông đã bị kết án 8 năm tù vào năm 2007 với tội danh "tuyên truyền chống nhà nước".
Theo Ân xá Quốc tế, sức khỏe cha Lý rất kém. Khi ở trong tù ông đã bị một cơn đột quỵ vào tháng 11 năm 2009, bị liệt một phần thân sau khi bị biệt giam. Ông cũng không được thuốc men đầy đủ để trị bệnh.
Ngày 15 tháng 3 năm 2010, cha Lý đã được tạm hoãn thi hành án tù 8 năm trong thời hạn 12 tháng, để ông có thể được điều trị sau khi được chẩn đoán là bị khối u ở não. Ông được đưa về quản chế tại một ngôi nhà cho các linh mục về hưu thuộc giáo phận Huế.

Từ Tunis đến Cairo, cả một hệ thống chế độ toàn trị hấp hối

Tu' Anh (RFI)

Chính sách toàn trị, độc quyền lãnh đạo, thâu tóm quyền lợi kinh tế trong suốt 30 năm qua đã dẫn đến tình trạng bế tắc ở các nước A Rập. Hậu quả là giới trẻ phải lên tiếng đòi quyền sống. Theo các chuyên gia trong khu vực thì không một cản lực nào có thể ngăn chận « hương hoa lài » và cứu vãn được số phận của những chế độ toàn trị đang hấp hối.
Phong trào phản kháng tại Ai Cập lan rộng sau 16 ngày tranh đấu với khẩu hiệu và cũng là mục tiêu tối hậu : « chấm dứt 30 năm chế độ Mubarak ». Cách nay đúng một tháng, vào ngày 13/12/2010, tại Doha, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton , không rõ vô tình hay cố ý, đã đưa ra một lời cảnh cáo mang tính tiên tri « các chính quyền Trung Đông phải đáp ứng khát vọng tự do và dân chủ của người dân ».
Bốn ngày sau, một thanh niên Tunisia có học thức nhưng thất nghiệp đi bán hàng rong tự thiêu để phản đối hành động bức hiếp của công an. Ngọn lửa phẩn uất này đã châm ngòi cho « cách mạng hoa lài ».
Khi "cách mạng hoa lài" thành công tại Tunisia rồi tiếp đến là biểu tình tại Ai Cập, ngoại trưởng Mỹ nhắc lại nội dung lời tuyên bố tại Doha và nói rằng không phải bà đe dọa mà thật ra bà nói lên tâm tư của xã hội công dân Ả Rập tiếp xúc với ngoại trưởng Mỹ và nhờ bà chuyển lại cấp lãnh đạo quốc gia.
Theo kinh tế gia Lahcen Achy thuộc Trung tâm nghiên cứu Carnegie khu vực Trung Đông, thì « nếu domino Ai Cập sụp đổ thì không ai có thể chận đứng hệ quả lây lan ». Vấn đề là « các chính quyền khác trong vùng có khả năng thích nghi đến đâu cải cách kịp thời trước khi dân chúng nổi dậy ».
Trung Quốc , Ấn Độ .. lo ngại
Theo nhà kinh tế này thì cuộc khủng hoảng hiện nay tại Ả Rập là cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội đầu tiên của các nước « đang trỗi dậy ». Do đó cuộc nổi dậy của dân chúng tại Tunisia và tại Ai Cập được chính quyền Bắc Kinh, New Dehli cũng như ở Nam Phi và Brazil theo dõi rất sát.
Theo Samir Ata, chủ tịch câu lạc bộ kinh tế gia Ả Rập thì « sai lầm » của các chính quyền trong khu vực « là đặt chính trị lên trên kinh tế ». Họ tóm thu hết ưu quyền đặc lợi rồi xây dựng một hệ thống « bè phái » và « cha truyền con nối ».
Giáo sư chính trị người Liban, ông Ghassan Salamé, nguyên là cố vấn của cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, hiện nay là nhà nghiên cứu tại Viện Quan hệ Quốc tế Paris nhận định : Cuộc nổi dậy hiện nay là hành động vùng lên của « đạo lý », của quyết tâm « đập tan chế độ toàn trị và tham ô ».
Chuyên gia Liban cảnh báo là những ai chưa chịu hiểu là khi nói đến « chính trị » là nói đến « đạo đức » thì sẽ không bao giờ hiểu tại sao người dân Trung Đông nổi dậy. Trung Đông đang bước vào một thời đại mới.
Để tìm hiểu thêm về bài học « cách mạng hoa lài » và những viễn ảnh bất trắc về địa lý chính trị trong khu vực, RFI đặt câu hỏi với giáo sư  quan hệ quốc tế Lê Đình Thông, đại học Paris Nanterre.
Giáo sư Lê Đình Thông : « Chế độ toàn trị không cho người dân có cơ hội phát triển và có ý kiến. Khát vọng dân chủ của người dân Ai Cập đã được Tổng tư lệnh quân đội công nhận là chính đáng. Tương lai chính trị của

Ai Cập sẽ tùy thuộc vào cách giải quyết của người dân , tùy thuộc vào tương quan lực lượng tại quốc hội tương lai…..Cách mạng hoa lài sẽ lan đến những nơi nào có cùng hoàn cảnh chính trị kinh tế như Ai Cập và Tunisie đó là độc tài, tham ô, nghèo khó và thất nghiệp…lời kêu gọi của ngoại trưởng Mỹ tại Doha là bài học rút gọn để các chế độ toàn trị suy nghĩ ».

Friday, February 4, 2011

Kami - Hãy sát vai cùng các blogger tự do đang ở Việt nam

Nguo^`n RFA

31.01.2011
(Mến tặng Trương Duy Nhất và các bạn nhà báo đang còn lưỡng lự …)
Cách đây chưa lâu, nhà báo-blogger Trương Duy Nhất đã thông cáo cùng cộng đồng blog rằng Trương Duy Nhất đã Nghỉ báo viết blog, Trương Duy Nhất đã trả thẻ nhà báo để từ nay trở thành một blogger hoàn chỉnh, để có thể viết ra những điều mà vốn lâu nay vẫn đau đáu trong tâm mà chưa có điều kiện viết ra hết vì còn nhiều nỗi lo. Tới hôm nay sau chỉ vài ngày, cũng nhà báo Trương Duy Nhất đã thẳng thắn lên tiếng không chút e dè  Đừng đọc báo, hãy đọc blog!” và kêu gọi các nhà quản lý báo chí hãy đừng bảo thủ đến mức đi phân rạch báo chí chính thống chính thống với báo chí ngoài luồng.
Nghề báo ở Việt Nam ta nhiều chục năm nay là như vậy, hẳn những ai đã từng là nhà báo hay viết báo dưới chế độ hiện nay đều rõ, muốn an tâm để coi nghề báo là một nghề kiếm sống, nuôi vợ con thì hãy viết những điều mà lãnh đạo tòa báo họ muốn, còn nếu ai muôn viết theo tâm của mình, hay viết vì độc giả, vì sự tiến bộ xã hội thì đó là việc chỉ dành cho mấy tay nhà báo “bất mãn” hay có tư tưởng chống đối như đánh giá của mấy vị làm công tác quản lý báo chí. Mà giả sử có ai viết như vậy thì họ cũng biết chắc bài viết sẽ bị biên tập cắt sửa cho đến khi hết nhẵn những ý của người viết cố cài vào thì họ mới chịu,để rồi cuối cùng khi bài viết xong xuôi được lên trang để đến với bạn đọc thì khi đó nó được ví như món đồ gỗ xộc xệch bởi một ông thợ mộc tay nghề dở sẽ làm mất công chửi của mấy bạn đọc nóng tính. Tóm lại sau mỗi bài viết kiểu như vậy thì cả người viết và người đọc đều có cảm giác chung là chán, bực mình kiểu như vừa bị lừa, vừa bị họ coi thường. Tất cả các nhà báo ai rất hiểu rõ điều này, nhưng cuối cùng họ cũng vì miếng cơm, manh áo của bả thân và vợ con thì ai cũng đành tặc lưỡi, nhắm mắt viết cho xong, viết theo yêu cầu của lãnh đạo để đảm bảo kế hoạch công tác.
Chắc đó cũng chính là lý do buộc nhà báo Trương Duy Nhất phải nghỉ viết báo để quay sang viết blog với suy nghĩ “ Trong thời buổi bạn đọc tẩy chay báo, chính người làm báo cũng không thèm đọc báo, mọi giới mọi ngành mọi người mọi nhà, từ gã thường dân đến quan chức hàng nguyên thủ, trung ương ủy viên… ai nấy đều quay sang đọc blog đến nghẽn mạng- Thế thì tại sao lại không nói không với báo, nghỉ làm báo để viết blog? “. Suy nghĩ đó cũng là tâm trạng chung của mỗi nhà báo còn có lương tâm của chính mình và còn biết phân biệt lẽ phải, đó là những người còn giữ được chút đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, người cầm bút.
Chuyện kiểm soát, kiểm duyệt khắt khe  và không cho tự do báo chí là điều thường xảy ra của một chế độ xã hội cai trị theo kiểu độc tài như ở Việt Nam, mà ở đó những kẻ cầm quyền không có sự tin tưởng vào khả năng cai trị và sự tồn tại của chính họ, khi mà trong mắt họ thì lực lượng nhà báo có tính cách đối lập, thích động chạm đến sự thật và lẽ phải là lực lượng nguy hiểm, có khả năng gây bất ổn cho chính quyền. Các nhà độc tài cảm giác những ngòi bút của lực lượng nhà báo đó là những cái đòn bẩy có thể dùng để xoay hay lật đổ cả một chế độ như nhà thơ Sóng Hồng đã mô tả trong hai câu thơ:
” … Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ.
Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền…”
Với suy nghĩ như vậy của các nhà cầm quyền độc tài thì đó chính là cách suy nghĩ sai, thiển cận dẫn tới các phản ứng bằng cách làm ngược, thay vì phải lắng nghe và quản lý báo chí bằng luật, phải coi báo chí là cơ quan quyền lực thứ tư, có vai trò tham gia giúp cho chính quyền quản lý và thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo tính chất tích cực vốn có của báo chí. Từ sợ báo chí, tới không biết quản lý báo chí để tận dụng mặt tích cực của nó thì họ lại dùng cách cấm đoán tới mức triệt để, bất kể điều đó vi phạm Luật báo chí hay Hiến pháp của đất nước.
So với tôi về tuổi đời thì Trương Duy Nhất ít tuổi hơn tuy không nhiều, tôi từng có suy nghĩ như kiểu hôm nay của Trương Duy Nhất từ rất lâu, cũng từng lo lắng về cuộc sống không chỉ của cá nhân mà của cả vợ con và người thân vì luôn vướng víu chuyện không biết là nếu bỏ nghề viết “thuê”, không có nhuận bút thì sẽ làm gì để sinh nhai, nhưng quan trọng hơn cả thời ấy cái hành động bỏ việc cơ quan nhà nước ra ngoài làm tự do dưới con mắt mọi người hình như nó rất xấu thì phải. Nhưng cuối cùng tôi cũng đã vượt qua được và quyết định hành động như Trương Duy Nhất đã vừa mới làm, đó là trả lại tấm Thẻ Nhà báo, cái vốn là chiếc cần câu cơm của cá nhân mình, của gia đình mình từ rất lâu rồi.
Sau quyết định đó cuộc sống cũng có chút đảo lộn, xong mọi thứ đời thường rồi cũng đâu vào đấy, cuộc sống dần ổn định nhanh chóng và cũng ngày một tốt hơn, nhất là về mặt tư tưởng và tinh thần, viết lách cũng thoải mái vì được và dám viết ra những điều mình bức xúc về đời sống, con người và xã hội. Mà mãi đến sau này mới rút ra một điều nay muốn nói lại với mọi người rằng, tạo hóa đã sinh ra con người, đã sinh ra mình thì tạo hóa cũng cho con người cái bản năng sinh tồn rất mãnh liệt, chết được cũng không phải chuyện dễ. Nhất là con người Việt Nam ta thường có bản năng “Đói thì đầu gối phải bò” để sinh tồn, rất dễ sống và tóm lại chẳng có lý do gì để sợ mà người cầm bút không dám dứt bỏ cái sợi xích vô hình đang bó buộc tâm hồn mình mà mình không còn thích. Nói ra điều đó để nhắn nhủ mọi người, nhất là những người đang cầm bút phải hiểu và lấy đó làm tôn chỉ cho mình khi cầm bút viết báo, không thể vì miếng cơm, manh áo của cá nhân vợ con mình mà bẻ cong ngòi bút, viết những điều họ (kẻ thuê mình) muốn mình viết bất kể đúng sai, chân lý kể cả chà đạp lên nhân phẩm của người khác như một số nhà báo đã và đang bị biến thành lũ bồi bút, hiện đang ngồi ở các tòa báo vốn là cái loa tuyên truyền của đảng CSVN như  CAND, QĐND v.v… mà không biết xấu hổ, điều mà làm cho bạn đọc phải hứng chịu cái cảm giác đó lẫn sự bực mình khi đọc qua những bài viết của họ.
Tôi luôn luôn muốn mỗi một người cầm bút chúng ta, hãy là những nhà báo chân chính và  xin hãy nhớ và làm theo như nhà thơ Phùng Quán đã viết trong bài thơ “Lời mẹ dặn” rằng:
“… Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
Những điều đó phải được coi như tuyên ngôn của những nhà báo chân chính có lòng với đất nước và dân tộc. Nếu mỗi chúng ta làm được như vậy, trước hết chúng ta sẽ không phải cảm thấy hổ thẹn đối với bản thân ta, bạn bè ta và vợ con ta. Quan trọng hơn là chúng ta sẽ được bạn bè trong cộng đồng tôn trọng vị nể với cái nhìn thiện cảm hơn.
Nhưng chắc chắn dù viết báo hay viết blog thì  Trương Duy Nhất,  cũng như tôi chắc sẽ có cùng chung quan điểm là phải có trách nhiệm viết ra những suy nghĩ của mình vì một tương lai tốt đẹp hơn cho tổ quốc Việt Nam bằng cách dùng ngòi bút của mình thông qua các loại phương tiện truyền thông để nâng cao dân trí xã hội, trên cơ sơ đảm bảo đạo đức, lương tâm người làm báo và tôn trọng sự thật, lẽ phải và sự công bằng. Chỉ có điều, với tôi đã là người cầm bút thì ở bất kỳ mặt trận nào, dù là viết báo hay blog thì chúng ta cũng chỉ có viết vì lẽ phải và sự trung thực, nhưng đừng nóng vội, bốc đồng, đặc biệt là không bao giờ nên sợ hãi hay tỏ ra mệt mỏi.
Đường xa mới biết ngựa hay, con người ta nói chung hay các bloggers cũng vậy, đích mà chúng ta đã và đang hướng tới không chỉ một thời gian ngắn mà có thể đạt được mà nó là một quá trình lâu dài, mà vai trò của mỗi chúng ta, mỗi blogger là cùng góp sức nhỏ bé của mình để cải tạo những cái chưa đúng, chưa tốt, chưa công bằng của xã hội hiện tại. Mọi người chúng ta xin đừng quên rằng, một nền truyền thông đối lập, hoàn chỉnh và hiệu quả chưa chắc đã lật đổ được một chế độ độc tài, nhưng chắc chắn một điều không có một hệ thống truyền thông tốt thì khó mà làm được việc đó. Bởi vậy, không chỉ các bloggers lề bên trái mà phải là toàn thể những người Việt Nam đã và đang cổ vũ, ủng hộ cho cuộc đấu tranh vì sự dân chủ và tự do của dân tộc, mỗi chúng ta đều phải có trách nhiệm chung tay, bằng mọi cách, dưới mọi hình thức có thể.
Bạn hãy thử hình dung xem, với thực tế hiện tại của nền báo chí quốc doanh, khi mà như nhà báo Trương Duy Nhất nói “ Trong thời buổi bạn đọc tẩy chay báo, chính người làm báo cũng không thèm đọc báo, mọi giới mọi ngành mọi người mọi nhà, từ gã thường dân đến quan chức hàng nguyên thủ, trung ương ủy viên… ai nấy đều quay sang đọc blog đến nghẽn mạng”. Nếu như chúng ta tạo điều kiện để vài chục, hay vài trăm nhà báo có tâm huyết với đất nước, với dân tộc đang ở trong nước sẽ làm theo Trương Duy Nhất đã làm, đó là trả thẻ nhà báo, không hợp tác để viết sai sự thật, trái lương tâm, viết theo sự chỉ đạo thì thử hỏi nền báo chí trong nước vốn quá nhàm chán sẽ còn lại những gì?
Xin đề nghị các tổ chức, các cá nhân hay các hội đoàn, các doanh nghiệp v.v… trong và ngoài nước  hãy ủng hộ họ, thông qua các web site, các blog của cá nhân họ dưới mọi hình thức để các blogger sống và viết những điều họ muốn, sự giúp đỡ đó có thể là đặt quảng cáo cho sản phẩm hay doanh nghiệp, ủng hộ tài chính hay chỉ dù tối thiểu là những lần ta ghé thăm thường xuyên trang blog của họ nó cũng mang lại cho họ chút niềm vui và sự tin tưởng về tương lai của họ. Chúng ta không cần giúp họ để làm giàu nhưng phải giúp cho họ và gia đình đủ sống đàng hoàng, còn về phía họ, những nhà báo đó họ sẽ tự biết họ sẽ phải làm gì, viết gì mà không bị chính quyền sờ gáy, hoặc gây khó khăn cho gia đình và bản thân. Thế là đủ, nếu làm được việc đó là ta đã bắn một mũi tên trúng hai, ba đích, vừa tiêu hao sinh lực của đội bạn, vừa kích thích những tiếng nói đối lập dám lên tiếng. Nếu làm được điều đó, chắc chắn chỉ một thời gian ngắn số lượng các bloggers trong nước tham gia sẽ có số lượng không nhỏ, khi đó cái gì sẽ xảy ra?
Chắc chắn, chúng ta sẽ phá vỡ và làm càng suy yếu thế độc quyền của nền báo chí độc tôn của chính quyền, đó là một việc làm cần thiết và cấp bách. Được gác lại những nỗi âu lo về cơm áo, gạo tiền để có thể dám viết ra những điều mình trăn trở, đây là điều mà các blogger tự do trong nước vốn rất nặng lòng suy tư, xong vì hai chữ thể diện và danh dự của mình mà họ đã rất ngại không dám nói ra nhưng suy nghĩ như vậy.
Các bạn đã sẵn sàng dành sự ủng hộ của mình cho những bloggers tự do đang ở Việt Nam, đang mong muốn được viết những điều họ còn nhiều trăn trở về đất nước, xã hội và cuộc sống hiện tại một cách tự do mà không bị chút bó buộc nào như blogger Trương Duy Nhất hay chưa?
Xuân đỉnh, 29 tháng Chạp - ngày giáp Tết Tân Mão

Monday, January 31, 2011

Những Bí Ẩn Về Nguyễn Tấn Dũng

Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài Gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi – những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào – Sài Gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”. Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là “tàn dư của chế độ cũ”.

Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng.

Một số những chiến sỹ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ – Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.

Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” … Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật.

Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô Viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô Viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.

Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh.

Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.

Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam cụ Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (cụ vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng cụ đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư cụ Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, cụ sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo.

Cụ ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm cụ vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, cụ ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.

Hồi ấy phương tiện đưa đón cụ chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của cụ đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe cụ nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ”, cụ biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.

Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều cụ lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi cụ xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy cụ mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.

Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của cụ viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải cụ đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho cụ biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.

Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như cụ thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.

Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, cụ càng trở nên trầm tư hơn.

Nếu ai có điều kiện lui tới gặp cụ tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của cụ. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái cụ, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà cụ chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.

Sau này khi cụ Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với cụ nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm cụ, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp cụ lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Cụ tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.

Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của cụ tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, cụ ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm cụ, thấy cụ có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm cụ vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng cụ bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là cụ muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.

Vừa ngồi xuống là cụ hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không?

Tôi đáp: Dạ, có biết chứ ạ!! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?

Cụ lại quay sang hỏi: Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?

Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.

Bỗng cụ ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.

Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất : Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung cộng nhưng đã bị phản đối (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung cộng công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước.

Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước – Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Sài Gòn, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục.

Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị.

Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.

Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?

Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.
Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.

Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.

Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân – Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.

Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ chính trị?

Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá! Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.

Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây

Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sau đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).

Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn.

Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả.

Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả.

Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp!

Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của cụ Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước).

Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.

Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài Gòn Tư Thắng mới ghé qua.

Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước …

Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661).

Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó!

Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.

Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau.

Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác.

Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Bởi vì sự bè phái và những âm mưu thâu tóm quyền lực là những nguyên nhân lớn nhất gây nên đổ vỡ tan rã trong Đảng, đây là điều mà Hồ Chí mInh đã cảnh báo từ rất sớm.

Trong thực tế chế độ ta chỉ chấp nhận một Đảng duy nhất lãnh đạo, những chia rẽ và yếu kém trong Đảng dứt khoát có nguy hại đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.

Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, sự tan rã chế độ sẽ là tất yếu. Rồi tập đoàn Dũng – Thắng – Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?

Những sự việc cụ Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.

Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.

Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai.

Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.

Hà Nội, Cán Bộ VPTƯ

Monday, January 24, 2011

Từ trong tù, ông Cù Huy Hà Vũ kêu gọi đa đảng và dân chủ cho Việt Nam

Đức Tâm (RFI)
 
 
Trong bài viết ông Cù Huy Hà Vũ khẳng định : « đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thực sự dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ, giàu mạnh, công bằng và văn minh ». Theo ông : « dân chủ đồng nhất với thể chế đa đảng » và có dân chủ, đa đảng thì sẽ thực hiện được các mục tiêu nói trên.
Ngày 22/01/11 trên internet đã xuất hiện bài viết « Quan điểm của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ gửi tới báo chí trong và ngoài nước », đề ngày 18/01/2011, gửi tới Ban biên tập Bauxite Việt Nam, các phương tiện thông tin đại chúng, các trang thông tin điện tử trong nước và ngoài nước.
Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, người bào chữa cho ông Cù Huy Hà Vũ, nói với RFI là bà cho công bố bài viết này theo đề nghị của đương sự.
Ông Cù Huy Hà Vũ bị bắt ngày 05/11/2010 và sau đó bị khỏi tố với tội danh tuyên truyền chống nhà nước, theo điều 88 bộ Luật Hình sự. Bài viết gửi báo chí của ông Vũ bao gồm ba điểm và đây cũng là ba nội dung chính trong bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hà Nội.
Trước hết, ông Cù Huy Hà Vũ khẳng định « mọi người Việt Nam chỉ có một Tổ Quốc là Việt Nam, chủ nghĩa xã hội không phải là tổ quốc của người Việt Nam ». Ông nhấn mạnh, Tổ quốc là do tổ tiên tạo lập, còn chủ nghĩa xã hội là một học thuyết chính trị, không phải là quốc gia, và không thể là quốc gia do các vua Hùng lập ra.
Đây là cơ sở để ông đưa ra kiến nghị với Quốc hội Việt Nam, ngày 30/08/2010, lấy Việt Nam là quốc hiệu, để thực hiện hòa giải dân tộc, đoàn kết mọi người Việt Nam, trong và ngoài nước, bất luận chính kiến, nỗ lực xây dựng và bảo vệ « tổ quốc Việt Nam ngang tầm thời đại ».
Trong nội dung thứ hai của bài viết, ông Cù Huy Hà Vũ khẳng định « đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thực sự dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ, giàu mạnh, công bằng và văn minh ». Theo ông, « dân chủ đồng nhất với thể chế đa đảng » và có dân chủ, đa đảng thì sẽ thực hiện được các mục tiêu nói trên.
Cuối cùng, ông Cù Huy Hà Vũ cho rằng liên minh quân sự với Hoa Kỳ là cấp thiết và quyết định trong việc giữ vững chủ quyền, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, thu hồi lãnh thổ bị nước ngoài xâm chiếm tại Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Kết thúc bài viết, ông Cù Huy Hà Vũ nhắc lại rằng ông quyết giữ vững những quan điểm này « trong bất cứ hoàn cảnh nào vì lợi ích tối cao của tổ quốc Việt Nam ».