Monday, January 31, 2011

Những Bí Ẩn Về Nguyễn Tấn Dũng

Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài Gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi – những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào – Sài Gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”. Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là “tàn dư của chế độ cũ”.

Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng.

Một số những chiến sỹ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ – Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả là bị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.

Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” … Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật.

Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô Viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô Viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.

Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh.

Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.

Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam cụ Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (cụ vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng cụ đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư cụ Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, cụ sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo.

Cụ ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm cụ vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, cụ ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.

Hồi ấy phương tiện đưa đón cụ chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của cụ đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe cụ nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ”, cụ biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.

Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều cụ lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi cụ xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy cụ mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.

Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của cụ viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải cụ đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho cụ biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.

Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như cụ thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.

Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, cụ càng trở nên trầm tư hơn.

Nếu ai có điều kiện lui tới gặp cụ tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của cụ. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái cụ, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà cụ chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.

Sau này khi cụ Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với cụ nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm cụ, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp cụ lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Cụ tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.

Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của cụ tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, cụ ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm cụ, thấy cụ có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm cụ vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng cụ bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là cụ muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.

Vừa ngồi xuống là cụ hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không?

Tôi đáp: Dạ, có biết chứ ạ!! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?

Cụ lại quay sang hỏi: Thế cậu có biết cái tay Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?

Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.

Bỗng cụ ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.

Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất : Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng cụ Hồ gặp những thiếu thốn và khó khăn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ ở Trung cộng nhưng đã bị phản đối (đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung cộng công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước.

Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước – Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Sài Gòn, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tính dục.

Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên cụ Hồ đã có một mối tình đầu rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy cụ Hồ có một ấn tượng và thiện cảm đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một vài cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị.

Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt này. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.

Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?

Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, cụ Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.
Thế là cụ lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.

Theo cụ Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướng Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng, và cụ còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn còn một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.

Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sỹ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.

Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân – Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.

Sau buổi tối hôm ở nhà cụ Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ? Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng cụ Hồ và thao túng cả Bộ chính trị?

Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá! Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.

Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh. Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây

Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sau đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng, thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).

Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn.

Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả.

Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả.

Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp!

Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của cụ Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước).

Tư Thắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.

Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài Gòn Tư Thắng mới ghé qua.

Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước …

Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661).

Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó!

Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh) để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.

Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau.

Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác.

Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Bởi vì sự bè phái và những âm mưu thâu tóm quyền lực là những nguyên nhân lớn nhất gây nên đổ vỡ tan rã trong Đảng, đây là điều mà Hồ Chí mInh đã cảnh báo từ rất sớm.

Trong thực tế chế độ ta chỉ chấp nhận một Đảng duy nhất lãnh đạo, những chia rẽ và yếu kém trong Đảng dứt khoát có nguy hại đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống nhân dân. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.

Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, sự tan rã chế độ sẽ là tất yếu. Rồi tập đoàn Dũng – Thắng – Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?

Những sự việc cụ Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.

Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.

Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai.

Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.

Hà Nội, Cán Bộ VPTƯ

Monday, January 24, 2011

Từ trong tù, ông Cù Huy Hà Vũ kêu gọi đa đảng và dân chủ cho Việt Nam

Đức Tâm (RFI)
 
 
Trong bài viết ông Cù Huy Hà Vũ khẳng định : « đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thực sự dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ, giàu mạnh, công bằng và văn minh ». Theo ông : « dân chủ đồng nhất với thể chế đa đảng » và có dân chủ, đa đảng thì sẽ thực hiện được các mục tiêu nói trên.
Ngày 22/01/11 trên internet đã xuất hiện bài viết « Quan điểm của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ gửi tới báo chí trong và ngoài nước », đề ngày 18/01/2011, gửi tới Ban biên tập Bauxite Việt Nam, các phương tiện thông tin đại chúng, các trang thông tin điện tử trong nước và ngoài nước.
Luật sư Nguyễn Thị Dương Hà, người bào chữa cho ông Cù Huy Hà Vũ, nói với RFI là bà cho công bố bài viết này theo đề nghị của đương sự.
Ông Cù Huy Hà Vũ bị bắt ngày 05/11/2010 và sau đó bị khỏi tố với tội danh tuyên truyền chống nhà nước, theo điều 88 bộ Luật Hình sự. Bài viết gửi báo chí của ông Vũ bao gồm ba điểm và đây cũng là ba nội dung chính trong bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Hà Nội.
Trước hết, ông Cù Huy Hà Vũ khẳng định « mọi người Việt Nam chỉ có một Tổ Quốc là Việt Nam, chủ nghĩa xã hội không phải là tổ quốc của người Việt Nam ». Ông nhấn mạnh, Tổ quốc là do tổ tiên tạo lập, còn chủ nghĩa xã hội là một học thuyết chính trị, không phải là quốc gia, và không thể là quốc gia do các vua Hùng lập ra.
Đây là cơ sở để ông đưa ra kiến nghị với Quốc hội Việt Nam, ngày 30/08/2010, lấy Việt Nam là quốc hiệu, để thực hiện hòa giải dân tộc, đoàn kết mọi người Việt Nam, trong và ngoài nước, bất luận chính kiến, nỗ lực xây dựng và bảo vệ « tổ quốc Việt Nam ngang tầm thời đại ».
Trong nội dung thứ hai của bài viết, ông Cù Huy Hà Vũ khẳng định « đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thực sự dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ, giàu mạnh, công bằng và văn minh ». Theo ông, « dân chủ đồng nhất với thể chế đa đảng » và có dân chủ, đa đảng thì sẽ thực hiện được các mục tiêu nói trên.
Cuối cùng, ông Cù Huy Hà Vũ cho rằng liên minh quân sự với Hoa Kỳ là cấp thiết và quyết định trong việc giữ vững chủ quyền, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, thu hồi lãnh thổ bị nước ngoài xâm chiếm tại Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Kết thúc bài viết, ông Cù Huy Hà Vũ nhắc lại rằng ông quyết giữ vững những quan điểm này « trong bất cứ hoàn cảnh nào vì lợi ích tối cao của tổ quốc Việt Nam ».

Sunday, January 23, 2011

Nhat Ky Yeu Nuoc - Cựu Trung Tá QĐND Trần Anh Kim Nói Về Hoàng Sa & Trường Sa

http://www.youtube.com/watch?v=djxGSBQ-7l0&feature=related

http://www.youtube.com/watch?v=Y3PuNNFx2RQ&feature=related
 ********************************************************
Phỏng vấn Trung Tá Trần anh Kim ở Thái Bình

Tôi là một sĩ quan đã từng chỉ huy chiến đấu đánh quân Trung quốc xâm
lược, và tôi có thể nói rằng nếu không có tiểu đoàn của tôi chận đứng
các trung đoàn của địch thì nó đã thực hiện mưu đồ xâm lược của chúng
rồi.

-       Chúng tôi thường nói là Mỹ nó xâm lược VN, nhưng không phải. Chính
Tàu mới là xâm lược. Ông Nga chỉ là miệng hùm gan sứa thôi. Ổng chẳng
ủng hộ gì, vũ khí toàn sản xuất từ năm 39 đến 42.
-       Năm 1988 hạm đội Nga nằm ở Cam ranh, Tàu nó đánh Trường Sa, ông Nga
không dám làm gì cả.
-       Nếu như tôi, tôi thà thân Mỹ. Tôi coi các chiến sĩ VNCH giữ Hoàng sa
đều là những anh hùng dân tộc VN cả.  Họ anh hùng hơn cả Quân đội Nhân
dân VN. Họ có khả năng và can đảm gìn giữ Hoàng sa.
-       Chúng tôi nhục lắm vì không giữ được Trường sa.
-       Mục đích chúng tôi chiến đấu là để bảo vệ nhân dân, chứ không phải
bảo vệ Đảng.
-       Tôi vẫn tôn vinh các anh chiến sĩ VNCH năm 1974 giữ đảo Hoàng sa/
Trường sa. Chúng tôi vẫn coi các anh là anh hùng. Chúng tôi vẫn khâm
phục các anh ấy. Chỉ có một cái lực lượng nhỏ như vậy mà dám chống đối
lực lượng to lớn của Tàu. Trong khi chính cái Đảng CSVN đem bán cái đó
cho Tàu. Đau lắm! Sau này chúng tôi mới biết, chứ lúc đó chúng bưng
bít lắm anh ạ. Lúc đó chúng tôi không biết đâu.
-       Cái Đảng CSVN này, cái Nhà Nước VN này nó hèn nhát. Nó bán đảo cho
Tàu, nó bán biên giới cho Tàu, nó bán biển cho Tàu. Thế là coi như bán
nước rồi.
-       Trong lịch sử dân tộc VN, trong các triều đại, chưa có triều đại nào
khốn nạn như cái triều đại CSVN.  Ngày xưa ông cha ta chưa có bao giờ
nhường cho nó một tấc đất.
-       Thế mà khi Tàu nó chiếm đảo, chiếm biển như thế Đảng cấm không cho
nhân dân, sinh viên chống đối, chống Tàu.  Đảng lại cho cái lực lượng
để đàn áp người ta. Người ta chống Tàu, chứ người ta có chống Đảng
đâu?
-       Tại sao lại cấm? Thế là đã lộ trân cái bộ mặt của cái chế độ CSVN
này đã thân Tàu rồi.
-       Nông Đức Mạnh đã thành Lê Chiêu Thống rồi.

Chúng ta đã và đang hy sinh để phục vụ Đảng mà Đảng đây là cái Đảng
phục vụ cho Trung Quốc chứ không phải cho Việt Nam.

Tuesday, January 18, 2011

Chuyện Quốc Tặc Thời Xưa Và Thời Nay

Thảo Luận Với Tuổi Thanh Niên PDF Print E-mail
Tác Giả: Trần Quốc Kháng

(Bài Thứ II)
Chuyện Quốc Tặc Thời Xưa Và Thời Nay
Thiết tưởng, trước khi tiến sâu vào nội dung của chủ đề QUỐC TẶC, chúng tôi xin nhắc lại hai SỰ THẬT HIỂN NHIÊN — nắm giữ vai trò then chốt trong lịch sử cận đại — đã trình bầy trong Bài Thứ I:
1- Sau 70 năm Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản (Mác-Lênin) tung hoành từ Âu sang Á, KINH NGHIỆM lịch sử ở tất cả các nước CS — dẫn đầu là khối CS Ðông Âu và Ðế Quốc Ðỏ Sô-Viết  — đã chứng minh: Cộng Sản Mác-Lênin là thảm họa chống nhân loại và đã hoàn toàn bị phá sản.
2- “Văn Kiện Đảng” CSVN — kể cả thư của Hồ Chí Minh — đã cho thấy, Hồ là “ĐẠI BIỂU” của Quốc Tế Cộng Sản, lãnh lương của QTCS, thi hành chỉ thị của QTCS thành lập đảng CSVN để áp đặt ách nộ lệ Mác-Lênin trên đất nước VN.
Vậy thì chúng ta tiến tới kết luận vững chắc: Hồ Chí Minh là quốc tặc ‘vĩ đại’ trong lịch sử VN. Chính hắn đã mang thảm họa Cộng Sản Mác-Lênin từ bên Sô-Viết về VN, giày xéo quê cha đất tổ.
Ôn lại trang sử năm 1945 — sau khi Mặt Trận Việt Minh cướp chính quyền, ép buộc vua Bảo Đại thoái vị — ai cũng thấy, TAY SAI của Quốc Tế Cộng Sản là QUỐC TẶC Hồ Chí Minh giành quyền “Chủ Tịch Nhà Nước”.
Sự kiện lịch sử này làm chúng tôi liên tưởng đến chuyện Mạc Đăng Dung khi xưa. Mặc dù, họ Hồ và họ Mạc có nhiều điểm khác biệt, nhưng ngược lại cũng có nhiều điểm tương đồng.
 
QuốcTặc Họ Mạc Và Quốc Tặc Họ Hồ
Thật vậy, qua tập “Việt Nam Sử Lược”, đọc lời phê phán của sử gia Trần Trọng Kim, ai cũng hiểu tác giả đã mặc nhiên, liệt kê họ Mạc là “quốc tặc”:
“Mặc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quỳ lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quý cho một thân mình và một nhà mình, ấy là người không biết đến liêm sỉ.
Đối với vua là kẻ nghịch thần, đối với nước là kẻ phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người, là không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên, dẫu lấy được giang sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơ nghiệp dựng lên bởi sự gian ác hèn hạ như thế, thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên con cháu nhà Lê lại trung hưng lên được”.
Rõ ràng như ban ngày, họ Mạc khi xưa cũng chiến thắng, đánh bại nhà Lê để lên ngôi vua và nắm quyền cai trị đất nước, tương tự như họ Hồ cùng đồng đảng hiện nay. Nhưng vì không có Chính Nghĩa, nên họ Mạc và họ Hồ không đạt được “vinh quang” của phía dân chúng dành cho.
Lẽ dễ hiểu là đại đa số dân chúng VN, khi biết rõ sự thật lịch sử thì chẳng còn ai ‘ngưỡng mộ’ bọn ‘hồ quần cẩu đảng’ VC. Ngược lại là sợ hãi và ghê tởm. Vì vậy, băng đảng VC đi đến đâu, ở đó dân chúng VN phải tìm đường, liều minh đi tỵ nạn.
Ðiển hình là năm 1954, khi VC chiếm miền Bắc thì có khoảng 1 triệu đồng nào di cư vào miền Nam tỵ nạn. Và sau khi VC chiếm miền Nam năm 1975 thì chuyện tỵ nạn thảm khốc hơn trăm ngàn lần:
Hàng trăm ngàn thuyền nhân bị vùi thây dưới lòng đại dương. Hàng trăm ngàn thiếu nữ bị sa vào tay hải tặc Thái Lan. Thế mà hàng triệu người vẫn liên tục, liều mình đi tỵ nạn. Theo Liên Hiệp Quốc phỏng đoán thì tổng cộng có khoảng từ 6 đến 7 triệu thuyền nhân đã liều mạng vượt biên vượt biển. Nhưng chỉ có độ 40% là đến được bến bờ Tự Do. Phần còn lại bị chết vì đắm tàu lúc gặp bão. Vì hải tặc giết hại, hay bị chúng bắt mang đi rồi biệt tăm. Thảm cảnh đau thương diễn ra liên tiếp khoảng 10 năm trời (1975-1985). Máu và nước mắt của đồng bào tỵ nạn lai láng khắp nơi trên biển Đông.
Như vậy, mong các bạn Thanh Niên phán xét công minh: Năm 1975, CSVN đã ‘giải phóng miền Nam’? Hay ngược lại, bọn chúng đã đặt ách nô lệ Mác-Lênin trên phần đất Tự Do này?
Không những thế, khi so sánh họ Mạc thời xưa và họ Hồ thời nay, chúng ta còn thấy những điểm như sau:
A- Chỉ vì muốn giữ ngôi vua, họ Mạc chịu nhục, quỳ lạy tướng Tàu, dâng vàng cho Tàu, dâng đất cho Tàu.
Còn họ Hồ, cũng vì muốn giữ ngôi “Chủ Tịch Nhà Nước”, nên đã mở chiến dịch quyên vàng của dân năm 1945 để dâng cho tướng Tàu là Lư Hán. Nhờ vậy, thay vì thi hành lệnh của Tưởng Giới Thạch — đem quân sang VN giải giới quân đội Nhật và giúp VN Quốc Dân Đảng dẹp Cộng Sản — thì Lư Hán làm ngược lại, giúp Mặt Trận Việt Minh.
Nhiều bậc cao niên ở Hà Nội đã cả quyết chứng kiến, hồi ấy cán bộ CS đã đi tuyển lựa gái đẹp trong các đoàn thể thiếu nữ — để “làm quà hữu nghị” dâng cho tướng Tàu.
Hồi ấy, họ Hồ còn cho công an Việt Minh tấn công vào trụ sở VN Quốc Dân Đảng ở số 9 phố Ôn Như Hầu, Hà Nội, trong đêm 12-7-1946. Chúng đã bắt tất cả đảng viên VNQDĐ hiện diện ở đó, mang đi thủ tiêu. Ngay sau đó, chúng ra sau vườn, đào xác chết của mấy người lính Tàu lên (vì trước khi giao căn biệt thự này cho VNQDĐ, lính Tàu đã đóng quân ở đây và chôn xác đồng đội chết ở phía sau vườn).
Sau khi đã có xác người chết --- vào lúc sáng sớm ngày 13-7-1946 --- công an Việt Minh hô hoán ầm ĩ, báo động cho dân chúng biết là trụ sở VNQDĐ là “Hắc Điếm” của “bọn cướp của giết người --- có chứng cớ rõ ràng”. Nhiều người bị lừa, trong đó có cụ Huỳnh Thúc Kháng, đã kết tội oan cho các đảng viên VNQDÐ. Thế là Hồ đã nguỵ tạo được “chính nghĩa”. Hắn bèn ra lệnh cho thuộc cấp, đi khắp nơi lùng bắt, sát hại hàng ngàn đảng viên VN Quốc Dân Đảng.
Mặc dù CS sử dụng “cứu cánh để biên minh cho phương tiện”, nhưng ở cương vị của “Chủ Tịch Nhà Nước”, Hồ hành xử như vậy thì quả thật là hèn hạ, xảo quyệt và gian ác hơn họ Mạc bội phần.
B- Dù quỳ lạy tướng Tàu là điều ô nhục của vua quan nhà Mạc. Nhưng chuyện ấy kéo dài, chắc hẳn chỉ nửa ngày, hay vài ngày? Dù sao, họ Mạc không hề bắt buộc dân chúng phải chịu nhục nhã, cúi đầu tôn thờ ngoại bang, kéo dài 61 năm nay như họ Hồ và đồng đảng đã làm: “Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Stalin bất diệt”.
Hơn nữa, họ Mạc không hề rước cố vấn Tàu, không tuân thủ theo lệnh của cố vấn Tàu, không mở chiến dịch “đấu tố” như họ Hồ đã làm: Xách động con tố cha, vợ tố chồng; xách động bần cố nông sỉ nhục, tra tấn dã man trước khi giết hại hàng trăm ngàn lương dân --- bị vu cáo là “địa chủ gian ác”. Trong đó có bà Cát Thanh Long, đại ân nhân của Hồ, đã ủng hộ Hồ trong chiến dịch quyên vàng cả trăm lạng và con trai của bà, đã theo Hồ đánh Pháp!
Sau chiến dịch đấu tố, đến năm 1958, trong lúc VNCH ở miền Nam đang gia tăng nỗ lực bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Trường Sa thì ở miền Bắc, Hồ ra lệnh cho Phạm Văn Đồng, viết thư xác nhận chủ quyền của Tàu Cộng trên quần đảo này.
Chứng cớ rõ ràng như thế, không ai có thể chạy tội phản quốc của họ Hồ. Vết nhơ này đã để lại hệ quả: “Noi gương bác Hồ” quốc tặc, đảng CSVN đã ký kết “Hiệp Định Biên Giới” năm 2001, dâng lãnh thổ và lãnh hải cho Tàu Cộng.
C- Tuy họ Mạc bị sử sách lên án là “quốc tặc”. Nhưng họ Mạc đã “tự lực, tự cường” khi cướp ngôi vua. Còn họ Hồ thì cúi đầu, làm say sai cho Quốc Tế CS. Nhờ thế lực của Nga Tàu, họ Hồ mới giành được chức “Chủ Tịch Nhà Nước”.
Điểm khác biệt quan trọng là họ Mạc, không phát động chiến tranh. Ngược lại, họ Hồ đã sử dụng chiêu bài “Đánh Pháp Chống Mỹ” (1945-1975) để khởi xướng chiến tranh theo chỉ thị của QTCS.
Vì vậy, đất nước chúng ta mới biến thành chiến trường đẫm máu của hai thế lực QUỐC TẾ: Một bên theo chủ nghĩa Cộng Sản độc tài toàn trị, muốn “nhuộm đỏ” VN. Một bên theo chủ nghĩa Tư Bản và thể chế Dân Chủ Tự Do --- chống lại bọn ‘hồ quần cẩu đảng’ VC.
Nếu xét trên bình diện quân sự thì Quốc Tế Cộng Sản mà Nga Tàu là hai kẻ đầu xỏ và CSVN là tay sai, đã chiến thắng trên chiến trường VN năm 1975. Còn Hoa Kỳ, đứng đầu phía Dân Chủ Tự Do — trong đó có VN Cộng Hòa là “đồng minh bất đắc dĩ” — hiển nhiên đã thảm bại.
Thế nhưng, xét trên bình diện Chủ Nghĩa và Chính Nghĩa thì ngược lại. Những biến cố lịch sử hồi đầu thập niên 1990 đã chứng tỏ sự thật ấy: Sức mạnh của Tự Do Dân Chủ đã làm cho chủ nghĩa Cộng Sản và “Mẫu Quốc XHCN Sô-Viết” tan tành theo sau các nước Cộng Sản Đông Âu.
Hiện thời, Quốc Tế Cộng Sản và Chủ Nghĩa Mác-Lênin đã phá sản toàn diện, không thể nào “đội mồ sống lại” được! Ngay cả Tàu Cộng và VC, hàng chục năm qua, cũng phải cúi đầu đi theo “Kinh Tế Thị Trường” của phía thù nghịch là chủ nghĩa Tư Bản để cứu nguy nền Kinh Tế XHCN bị èo uột.
Mặc nhiên, Chính Nghĩa qua cuộc chiến (1945-1975) của phía Quốc Gia --- trong đó có VNCH --- đã toàn thắng và sáng chói như ánh sáng mặt trời sau thời kỳ bị “mây đen bao phủ” hồi cuối thập niên 1970.
Thật ra, trong thời gian chiến tranh, Hồ cùng đồng đảng đeo mặt nạ “Dân Tộc” và làm ra vẻ “tự túc, tự cường”. Chúng dấu diếm sự hiện diện của cố vấn Nga, quân đội Tàu Cộng.... và phi công Bắc Hàn tham chiến ở VN.
Nhưng sự thật thì ngược lại: Từ tư tưởng đến việc làm, Hồ cùng đồng đảng nằm trong vòng nô lệ của Nga-Tàu: Vũ khí, quân trang, quân dụng, chiến thuật, chiến lược, nào là "Công Đồn Đả Viện", nào là "Tiền Pháo Hậu Xung", nào là "Cải Cách Ruộng Đất", nào là "Trăm Hoa Đua Nở", rồi đến chiêu bài "Đánh Tư Sản", "Đổi Mới Tư Duy"... và "Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng XHCN" đều là do Nga Tàu dậy bảo.
Trong bài viết phản bác lại luận điệu “mập mờ đánh lận con đen” của Lê Xuân Khoa --- về chiến tranh VN --- ông Đại Dương đã nêu lên nhiều nhận định sâu sắc và tài liệu xác thực. Trong đó có đoạn, ông Đại Dương đã viết:
“Căn cứ tài liệu giải mật của Bắc Kinh, vào tháng 8-1993, sử gia Chien Jiang tại Clark University, Hoa Kỳ cho biết Mao Trạch Đông và bộ tham mưu đã dốc tài nguyên và tâm sức cho Bắc Việt nhằm ngăn chặn Mỹ trên ba mặt trận đang bao vây Hoa Lục. Đó là các mặt trận Triều Tiên, Việt Nam và Đài Loan. Các chiến dịch Biên giới (1950), Tây Bắc, châu thổ Hồng Hà (1952), Thượng Lào (1953), Điện Biên Phủ (1954) đều do các tướng lãnh Trung Cộng như Lã quý Ba, Mai Gia Sinh, Đặng Nhất Phấn, Vị Quốc Thanh, Trần Canh đặt kế hoạch và nắm quyền chủ động”.
Thiết tưởng, chúng ta cũng nên minh định: Không có chuyện CSVN đơn phương thắng Pháp, thắng Mỹ như chúng khoe khoang. Sự thật, Quốc Tế Cộng Sản --- do Nga Tàu điều khiển và tham chiến --- đã thắng Pháp và Mỹ trên chiến trường VN. Hơn nữa, điều cốt lõi trong cuộc đấu tranh của CSVN là chủ nghĩa Mác-Lênin mà chúng tôn thờ --- cho là “đỉnh cao trí tuệ” và “bách chiến bách thắng” --- thì lịch sử cận đại đã chứng tỏ, chủ nghĩa ấy là THẢM HỌA chống Nhân Loại và hoàn toàn bị phá sản.
Còn chỗ nào để CSVN ngụỵ tạo “Chính Nghĩa”?
Còn chỗ nào để CSVN kể công nhằm che dấu tội ác tầy trời đối với Dân Tộc VN?
Kể cả huyền thoại “bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” cũng đã “lòi đuôi cáo đỏ”: Sự thật, lá thư do chính tay Hồ viết đã cho thấy, “bác Hồ” đi làm bồi tàu cho Tây để sang bên Pháp, viết thư xin vào học nội trú Trường Thuộc Địa. Ứớc mơ làm tay sai cho Pháp không thành, Hồ xoay sang là tay sai cho Quốc Tế Cộng Sản.
Còn “tư tưởng Hồ Chí Minh” ư?  Sự thật, chính Hồ đã xác nhận trong Đại Hội Đảng năm 1951, đại ý là “cơ sở tư tưởng cho Đảng là tư tưởng Mác, Anghen và Lênin. Còn đường lối hay chính sách của Đảng thì có Chủ Tịch Stalin và Chủ Tịch Mao Trạch Đông đã vạch sẵn”. Nói nôm na, Hồ cùng đồng đảng chỉ là kẻ thừa hành. Chỗ nào là “tư tưởng Hồ Chí Minh”? Ai còn hoài nghi, xin quý vị kiểm chứng qua cuốn  “Hồ Chí Minh Toàn Tập” do VC xuất bản năm 1994, trang 6.  
Trở lại chuyện quốc tặc xưa và nay, nếu so sánh chuyện “không có liêm sỉ”, hoặc “cách ăn ở của loài người, không có nhân phẩm” – cụm từ của sử gia Trần Trọng Kim ở phần trên --- thì họ Hồ tồi tệ hơn họ Mạc cả trăm ngàn lần.
Thật vậy. Không ai có thể kể được hết tất cả chuyện đại gian, đại ác và vô liêm sỉ của Hồ:
Mạo nhận là tác giả của tập thơ “Ngục Trung Nhật Ký”; gian dối, dùng bút hiệu là Trần Dân Tiên để viết sách tự ca ngợi và đề cao mình; dâm đãng mà lại còn trí trá, cho đồng đảng ca ngợi mình là “hy sinh hạnh phúc gia đình để phục vụ đất nước”.
Trong chuyện tình dục, ô danh nhất là chuyện Hồ ép buộc cô Nông Thị Xuân làm “gái bao” để thoả mãn thú tính. Đến khi có con với cô ta thì Hồ sợ bị bại lộ, nên ra lệnh cho Trần Quốc Hoàn — trùm công an VC — thủ tiêu cô Xuân. Quả thật Hồ là kẻ bất nhân, bất nghĩa đến mức độ, không ai có thể ngờ được! Chính vì thế mà Đại Tá VC là Bùi Tín — dù “nói như vẹm” — cũng không thể nào chối cãi được. Hắn đành phải gọi “bác Hồ kính yêu” của hắn là “ông đại Việt gian” và đảng CSVN là đảng “Việt gian”.

Nhổ Cỏ Phải Nhổ Tận Gốc

Như đã trình bầy trong Bài Thứ I, chúng tôi thiết tưởng, muốn tranh đấu cho Dân Chủ Tự Do --- hay giải quyết bất cứ vấn nạn nào --- chúng ta nên tìm hiểu kỹ càng và giải quyết tận cội nguồn thì mới đạt được giá trị lâu bền. Nói cách khác là “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.
Đồng thời, qua tất cả những phần trình bầy ở trên và “nói có sách mách có chứng”, chắc hẳn đại đa số các bạn Thanh Niên đều đồng ý, đất nước chúng ta bị tập đoàn ĐẠO TẶC — là đảng giặc VC — cầm quyền, tôn thờ chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa phi nhân, vừa lạc hậu. Chúng trị dân bằng đường lối xuẩn động, khiến đại khối dân chúng sa vào thảm cảnh lầm than, nghèo khổ và tệ đoan xã hội, lộng hành khắp nơi.
Như vậy: Làm thế nào để đem lại Dân Chủ Tự Do cho đất nước --- trong khi đảng CSVN chủ trương độc tài toàn trị?
Làm thế nào để diệt trừ tham nhũng --- trong đảng cầm quyền, lại tham nhũng từ trung ương đến địa phương?
Làm thế nào để “xóa đói giảm nghèo” --- trong khi chủ nghĩa Mác-Lênin và đảng CS lại là cội nguồn gây ra thảm cảnh bần cùng trong xã hội?
Làm thế nào để chặn đứng tệ trạng “bần cùng sinh đạo tặc” --- trong khi dân chúng bị ép buộc, phải tôn thờ quốc tặc Hồ Chí Minh?
Không hiểu các bạn Thanh Niên nghĩ thế nào?
Tổng Thống nước Nga là ông Boris Yelsin --- cựu đảng viên Cộng Sản sau khi đã cải tà quy chính – thì khẳng định rằng: “Đối với Cộng Sản thì phải thay thế, chứ không thể nào thay đổi được”.
Còn Tiến Sĩ Raymond thì quả quyết: “Chỉ có một cách duy nhất, để canh tân đất nước trong thời XHCN là xoá bỏ chế độ ấy đi”.
Thi sĩ Hữu Loan thì nêu lên nhận xét và chủ trương của ông qua mấy vần thơ:
Hãy ngó mà xem, thật nguy hiểm thay
Chúng nó ngụy trang bằng tổ chức
Bằng quan điểm nhân dân
Bằng lập trường, chính sách
Chúng nó còn thì nhân dân còn khổ
Phải làm tổng vệ sinh cho kỳ hết mọi thằng
Rõ ràng, “làm tổng vệ sinh cho kỳ hết mọi thằng” có nghĩa là “nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.
Đồng ý là như vậy. Nhưng chúng tôi thiết nghĩ, nếu muốn “nhổ cỏ” êm ái nhất và nhân ái nhất thì chỉ cần quẳng XHCN “vào thùng rác lịch sử” và LOẠI TRỪ tập đoàn ĐẠO TẶC VC ra khỏi các sinh hoạt chính trị hoặc các cơ quan công quyền.
Dù sao, đó chỉ là “nguyên tắc”. Còn việc áp dụng “nguyên tắc” ấy, dĩ nhiên là thuộc phạm vi chiến lược, đòi hỏi khối óc minh mẫn của các chiến lược gia --- trong các tổ chức đấu tranh chân chính hoạch định.
Ngược lại với “nguyên tắc” nêu trên, trong mấy tháng vừa qua, phe nhóm “chính trị gia nhi đồng đầu bạc”, đứng ra “đánh trống khua chiêng” om xòm, quảng bá cho đám “du sinh quàng khăn đỏ” — “cháu ngoan” của “bác Hồ quốc tặc”.
“DIỆN” bên ngoài, chúng đấu tranh cho Dân Chủ Tự Do. Nhưng “ÐIỂM” bên trong, chúng muốn “mạ vàng mạ bạc” cho chế độ phi nhân VC. Lẽ dễ hiểu là chúng chỉ chủ trương, “tích cực nhắc các lãnh đạo đảng CSVN xoá bỏ bất công, chống độc quyền, tôn trọng các quyền tự do của nhân dân, thực hiện bầu cử tự do và công bằng”!
Dù sao, chúng tôi vẫn tin tưởng, khá đông bạn Thanh Niên đều có học vị cao, trí tuệ minh mẫn. Mặc dù tuổi còn trẻ --- chưa có nhiều kinh nghiệm về Cộng Sản --- nhưng vẫn dễ dàng nhận thấy, đâu là sự thật, phía nào CHÍNH, phía nào là TÀ.
Kinh nghiệm lịch sử 61 năm “núi xương sông máu” của dân tộc chúng ta đã cho thấy, hàng trăm hay cả ngàn lần CSVN đã xảo quyệt, lừa bịp dân chúng. Chúng lại còn sử dụng “luật rừng” và chẳng bao giờ tôn trọng bất cứ hiệp định nào do chúng ký kết. Ngay cả “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” mà Hồ Chí Minh cùng đồng đảng tung ra để nhử mồi quần chúng từ ngày 2-9-1945 đến nay, hiển hiện chỉ là BA CÁI BÁNH VẼ không hơn không kém.
Nên chắc chắn, chỉ có những kẻ bị bệnh tâm thân mới tin theo chiêu bài đòi hỏi CSVN ban cho quyền tự do này, ban cho quyền tự do kia, hoặc xin chúng thực hiện “bầu cử tự do và công bằng”

 Trần Quốc Kháng


--------------------------------------
Tài Liệu Tham Khảo:(1)- “Việt Nam Sử Lược”,  Trần Trọng Kim.
(2)- “Thư góp ý xây dựng đảng” CSVN, cựu Tr/Tá VC Trần Anh Kim, đề ngày 03-02- 2006.
(3)-  Bản tin và cuộc phỏng vấn Hoàng Minh Chính của Đài Á Châu Tự Do ngày 23-1-2004.
(4) - Tài Liệu PMU 18 của Bộ Ngoại Giao Mỹ (Department Of State, Oversea Security Advisory Council).
(5)- “Lê Xuân Khoa Với Hòa Giải Dân Tộc”, bài viết của nhà báo Đại Dương.
(6)- Bản tin của Việt Báo online ngày 13-3-06.
(7)- Bản tin của ký giả Verena Dobnik ngày 11/3/2002 và bài “Gorbachev: Communism Was Pure Propaganda" của ông Brian Carnell ngày 18-3-2002.
 (8)- “Văn kiện đảng” CSVN, tựa đề là “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và cương lĩnh đầu tiên của đảng” do CSVN phổ biến trên website www.cpv.org.vn.
(9)- Tài liệu về Hồ Chí Minh trên website www.vietnamexodus.org.
(10)- “Cộng Sản Trên Đất Việt”, giáo sư Nguyễn Văn Canh.
(11)- “Lột Trần Huyền Thoại Hồ Chí Minh”, sử gia Trần Gia Phụng.
(12)- “VN Cuộc Chiến Tranh Quốc Gia / Cộng Sản” Tập I, của Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Hải Ngoại”, NXB Nhân Chứng.

Friday, January 14, 2011

Thơ : Mừng đảng, mừng xuân, mừng đại hội 11

Lão Đảng viên (Danlambao, 13.1.11)

Đảng ta là đảng tự do
Chỉ lo lễ lạt chẳng lo lái chèo
Đảng ta là đảng nói leo|
U mê kiên định học theo nước nào?

Đảng ta là đảng tầm phào
Chỉ lo vơ vét dân nghèo mặc thây
Đảng ta là đảng nói hay
Còn làm mặc kệ bọn mày tự lo

Đảng ta là đảng bo bo
Khư khư giữ túi cùng lo tham quyền
Đảng ta là cái đảng điên
Cuồng si với lại Mác Lê chết mòn

Đảng ta là Đảng cò con
Thi nhau mua, bán, mất, còn, chức quan
Đảng ta là đảng hồng loan
Lấy máu dân chúng tắm oan nước nhà

Đảng ta toàn lũ la cà
Sáng trưa chiều tối thật là say sưa
Đảng ta chính hiệu Đảng lừa
Dối dân phỉnh chúng chẳng chừa thói hung

Đảng ta bán đất bán rừng
Biên cương hải đảo vô chừng bán luôn
Đảng là một lũ con buôn
Bán cả nhân phẩm nỗi buồn muôn dân

Đảng ta là đảng bất cần
Đạp trên dân chúng muôn dân thét gào
Đảng ta chỉ thích công lao
Khoe khoang thanh thế tào lao tốn tiền

Đảng ta đâu biết thị trường
Tập đoàn kinh tế muôn đường khó khăn
Đảng ta chỉ biết có ăn
Không lo làm lụng vì dân tộc này

Đảng ta tham nhũng mới hay
Che trên lấp dưới chẳng ai dám nhòm
Đa nguyên đàn áp tùm lum
Diệt bọn dân chủ đảng cùm anh em

Đảng ta là đảng nhập nhèm
Tự ca tụng lấy dân xem ra gì
Đảng ta, ôi thật lạ kỳ
Công an, quân đội chỉ vì đảng thôi

Tiền dân nuôi đảng nhiều rồi
Đảng đâu có biết chúng tôi khốn vầy
Dân thì sống chết mặc bay
Túi Đảng có đầy thì Đảng mới ưa !

Hà nội ngày khai mạc Đại hội 11

Lão Đảng viên

Thursday, January 13, 2011

HRW yêu cầu Việt Nam chấm dứt trấn áp giới bất đồng chính kiến

Đức Tâm
Nhân dịp đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ 11, hôm nay, 11/01/2011, tổ chức Human Rights Watch, có trụ sở tại New York, Hoa Kỳ, đã kêu gọi chính quyền Việt Nam hãy tôn trọng – thay vì chà đạp – các quyền cơ bản của con người, chấm dứt ngay các hành động bóp nghẹt bất đồng chính kiến, trả tự do cho những người đang bị cầm tù, giam giữ và bị kiểm duyệt.
Theo HRW, trong thời gian qua, vào lúc trước khi có Đại hội 11, các hành động trấn áp đã gia tăng đột ngột. Lãnh đạo cấp cao của chính quyền Việt Nam đã ra chỉ thị cho các cơ quan chức năng địa phương phải bảo đảm trật tự, không để cho giới bất đồng chính kiến, các nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền, những người dân đi khiếu kiện đất đai, các nhóm thiểu số đấu tranh đòi tôn giáo độc lập, gây ra các sự cố vào thời điểm trước và trong khi có Đại hội. Đây chính là nội dung công điện số 2402/CD-TTg do thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 30/12/2010.
Ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách châu Á của tổ chức này chất vấn : « Tại sao các nhà lãnh đạo Việt Nam lại sợ phải nghe những bức xúc của chính người dân nước mình ». Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam nên có một kế hoạch cải thiện về nhân quyền, « thay vì tiến hành bắt giữ, trấn áp những tiếng nói phê phán để rảnh tay họp hành ».
Sau khi điểm lại những vụ vi phạm nhân quyền, trấn áp các nhà ly khai, những người đòi tự do tôn giáo trong thời gian qua tại Việt Nam, tổ chức Human Rights Watch đưa ra 7 kiến nghị đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam như Đại hội Đảng cần bãi bỏ các luật lệ và chính sách cản trợ tự do ngôn luận, khẳng định rằng Công an không được đứng trên pháp luật, chỉ đạo nghiêm cấm các quan chức địa phương tịch thu trưng dụng đất đai của người dân để đưa vào các dự án phát triển mà không có đền bù thỏa đáng, chấm dứt đàn áp quá tay với những người dân khiếu kiện, bảo đảm tự do tôn giáo, cho phép lập công đoàn độc lập, tiến hành thương lượng để bảo đảm quyền lợi cho người lao động, chấm dứt xách nhiễu, gây sức ép đối với giới luật sư khi họ tham gia các vụ án nhậy cảm, liên quan đến các hành vi lạm dụng công quyền, tôn trọng các cam kết quốc tế và bảo đảm các luật lệ, quy định của chính phủ phù hợp các chuẩn mực quốc tế.
Đại diện HRW nhấn mạnh, « đã đến lúc Việt Nam cần chú trọng tới nhân quyền, không phải Đảng quyền » và để đưa đất nước tiến lên, giới lãnh đạo Việt Nam phải để cho « các công dân của mình được hưởng đầy đủ mọi quyền được công nhận trong các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết, thay vì tập trung nỗ lực cản trở các quyền tự do cơ bản và bóp nghẹt bất đồng chính kiến ».

Tuesday, January 11, 2011

Đảng Cộng sản Việt Nam ngoan cố không chấp nhận đa nguyên đa đảng

Đức Tâm (RFI)
Ủy viên Trung ương Đảng, tổng biên tập báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Việt Nam  khẳng định lại : « Việt Nam chúng tôi không có nhu cầ u đa nguyên đa đảng, và dứt khoát không đa nguyên đa đảng ». AFP cho biết là trong ngày 09/01, đài phát thanh Nhà nước Việt Nam đã phát một bài dài nhiều phút chống đa nguyên đa đảng.
Hôm qua, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương đã có cuộc họp báo nói về Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 sẽ được tổ chức trong tuần này. Khi trả lời câu hỏi của phóng viên ngoại quốc về việc liệu Việt Nam có đa nguyên, đa đảng hay không, ông Đinh Thế Huynh, Ủy viên Trung ương Đảng, tổng biên tập báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định lại : « Việt Nam chúng tôi không có nhu cầu đa nguyên đa đảng, và dứt khoát không đa nguyên đa đảng ».
Quan chức này giải thích là đã có lúc, tại Việt Nam có đa đảng. Ông nêu ví dụ về sự tham gia của nhiều đảng phái trong cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng sau đó, chỉ có đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp. Vẫn theo ông Đinh Thế Huynh, thì « Bây giờ thì Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc ».
AFP cho biết là trong ngày hôm qua, đài phát thanh Nhà nước Việt Nam đã phát một bài dài nhiều phút chống đa nguyên đa đảng.
Giới phân tích có cùng nhận định là trước đây, đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng tính chính đáng của mình trên cơ sở những thắng lợi quân sự chống ngoại xâm. Từ hai thập niên qua, đảng này dựa vào những thành quả kinh tế như tăng trưởng, cải thiện đời sống của người dân, để khẳng định vai trò lãnh đạo của mình.
Song song với việc không chấp nhận để người dân tham gia vào các hoạt động chính trị, đảng Cộng sản Việt Nam đã làm thí điểm bầu lãnh đạo địa phương.
Tuy nhiên, các nhà hoạt động cho nhân quyền và dân chủ tố cáo là càng gần đến Đại hội Đảng, chính quyền Việt Nam gia tăng trấn áp những nhà ly khai.
Đảng Việt Tân có sở tại Mỹ, hôm nay lên tiếng tố cáo « đảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm duy trì nguyên trạng ». Theo tổ chức này, thì Việt Nam vẫn đang thay đổi bất chấp những gì xẩy ra trong Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam. Sự thay đổi này là kết quả của internet. Mạng thông tin toàn cầu tạo ra trên thực tế những phương tiện truyền thông tự do và một xã hội dân sự.
AFP nhắc lại rằng Việt Tân luôn tự khẳng định là một đảng thúc đẩy tự do qua các phương tiện hòa bình, nhưng chính quyền Việt Nam lại coi đây là một tổ chức « khủng bố ».
Cũng nhân dịp này, AFP có bài viết cho rằng Đại hội Đảng lần thứ 11 được tổ chức trong bối cảnh nạn tham nhũng luôn ám ảnh tâm trí người dân Việt Nam.
Đối với nhiều người Việt Nam, nạn tham nhũng có hệ thống là mối lo ngại hàng đầu.
Một công nhân 34 tuổi, làm việc trong một nhà máy tại một khu công nghiệp, với mức lương 3 triệu đồng một tháng, nói với AFP : « đối với tôi, vấn đề nguy cấp nhất của nước chúng tôi hiện nay là nạn tham nhũng hoành hành ở mọi nơi, từ trung ương đến thường dân. Từ đại hội Đảng lần trước, ban lãnh đạo đã hứa đấu tranh mạnh mẽ chống tham nhũng, chúng tôi không thấy có vụ tham nhũng lớn nào được xử lý ».
Khi mới nhậm chức vào năm 2006, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được coi là một lãnh đạo sẵn sàng đấu tranh chống tham nhũng, thế nhưng, giới phân tích nhận định là các nỗ lực được mong đợi đã không mang lại hiệu quả.
Năm 2009, trong một bản báo cáo, Liên Hiệp Quốc nhận định rằng kể từ Đại hội Đảng 10, nạn tham nhũng không hề giảm và tình trạng đưa hối lộ, quà cáp đã diễn ra ở mọi cấp độ trong Đảng và Nhà nước, trong cả khu vực công và tư.
Hơn nữa, tham nhũng, hối lộ lại trở thành một trụ cột chính trong thể chế tại Việt Nam. Ông Martin Gainsborough, chuyên gia về Việt Nam tại Trung tâm Nghiên cứu Đông Á thuộc Đại học Bristol, Anh Quốc, nói thẳng, « người ta trả tiền để có được việc làm tại công sở cho dù mức lương chính thức thấp. Điều này có nghĩa là các quan chức hy vọng sẽ thu hồi được vốn đầu tư qua các cách thức khác ».
Cho dù có nhiều lời chỉ trích về tình trạng tham nhũng nghiêm trọng, các nhà quan sát cho rằng thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn có nhiều khả năng làm thêm một nhiệm kỳ nữa.

Monday, January 10, 2011

ĐẾ QUỐC CỘNG SẢN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ

I- Ông Gorbachev từ chức      
Sau vài ngày trì hoãn không tìm ra lối thoát, Chủ Tịch của Liên Xô là ông Mikhail S. Gorbachev vào buổi chiều ngày 25 tháng 12 năm 1991, đành phải lên đài truyền hình, trình bày trước dân chúng Liên Xô rằng ông không còn đủ sức, đủ tài để giữ cho Liên Xô không bị sụp đổ. Ông nói: “Từ nay tôi chấm dứt các hoạt động của tôi ở chức vụ Chủ Tịch của Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô viết”.                  
Ông Mikhail S. Gorbachev có quyết định này khi tìm mọi cách để hàn gắn lại đất nước Liên Xô nhưng không thành. Đế Quốc Cộng Sản Liên Xô đang đứng trước bối cảnh đói rách, phá sản, ly khai.                  
Không lâu sau bài diễn văn truyền hình của ông Gorbachev, vào đúng 7 giờ 32 phút chiều ngày hôm đó, lá cờ Búa Liềm đã từng ngạo nghễ tung bay phấp phới trên nóc Điện Cẩm Linh trong gần 3 phần tư thế kỷ, được kéo xuống một cách âm thầm và thay thế bằng lá cờ Nga với 3 màu trắng, xanh và đỏ, và đây là lá cờ của một liên minh lỏng lẻo gọi là “Cộng Hòa các Quốc Gia Độc Lập” (the Commonwealth of Independent States). Từ nay “thành trì của ý thức hệ Mác Xít Lê-Nin-Nít đã tiêu tan”.                  
Đế Quốc Cộng Sản Liên Xô đã sụp đổ, đã chết vào ngày 25/12/1991, hưởng thọ 74 tuổi! Liên Xô đã được thai nghén từ các lời hứa “không tưởng” (utopian promises), đã chào đời sau những chính biến đầy bạo lực của “Cuộc Đại Cách Mạng Tháng 10 Năm 1917″ để rồi trải qua các thập niên lịch sử vừa hỗn độn, vừa huyên náo, đã đạt được nhiều thành tích rất to lớn nhưng cũng khiến cho hàng trăm triệu người dân trong nước phải chịu đựng nhiều đau khổ một cách khủng khiếp.                  
Sự sụp đổ của Đế Quốc Cộng Sản Liên Xô khiến cho nhiều người phải nhớ tới lời của Alexis de Tocqueville nói về cuộc Cách Mạng Pháp: “Như vậy rõ ràng là trên các miền đất của nước Pháp, đã có cuộc cải tiến quan trọng khi lòng bất mãn của người dân lên cao nhất. Điều này có vẻ vô lý, nhưng Lịch Sử thì tràn đầy nghịch lý (paradoxes) như thế. Không phải luôn luôn có các cuộc cách mạng mỗi khi sự việc đi từ xấu đến xấu nhất mà trái lại, cuộc cách mạng thường xẩy ra khi người dân chống đối một chính quyền đàn áp trong một thời gian khá dài rồi bỗng nhiên, khi thấy rằng chính quyền giảm bớt áp lực đè nén thì ngay lập tức, người dân cầm súng vùng dậy chống lại chính quyền đó”.                 
Liên Xô có hệ thống chính trị Xô Viết với đường lối tập quyền và chuyên chế từ trung ương, với Đảng Cộng Sản được tổ chức rất kỷ luật, với mạng lưới công an KGB tinh vi, với khối quân sự hùng mạnh và các ngành truyền thông cùng báo chí bị kiểm soát chặt chẽ, thì không thể nào bị sụp đổ từ bên trong! Chế độ Phát Xít của Ý và chế độ Quốc Xã của Đức đã chỉ bị tiêu diệt sau nhiều thảm bại về quân sự. Nhưng Liên Xô đã sụp đổ quá nhanh mà không phải dùng tới vũ khí hạt nhân. Liên Xô đã âm thầm đi vào bóng tối, khiến cho nhiều người phải sững sờ, thắc mắc?                  
Ngày 11 tháng 3 năm 1985, ông Mikhail S. Gorbachev được chọn làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Xô, chỉ vài giờ sau lời công bố sự từ trần của ông Konstantin U. Chernenko. Vào lúc này, Liên Xô đang cần tới một nhà lãnh đạo có nhiều sinh lực hơn, trẻ trung hơn. Ông Gorbachev đã được Chủ Tịch Yuri V. Andropov “đánh bóng” và chọn lựa vào chức vụ hàng đầu: ông mới 54 tuổi, là nhà lãnh đạo trẻ nhất kể từ thời Stalin và đây là điều mà phần lớn người dân Liên Xô ưa thích, nhưng ông Gorbachev lại chỉ có chút ít kinh nghiệm tại Trung Ương Đảng. Vào ngày nhậm chức, ông Gorbachev đã tuyên bố rằng: “Thưa các đồng chí, tôi hứa với các đồng chí rằng tôi sẽ hết sức cố gắng một cách trung thành phục vụ Đảng, nhân dân và lý tưởng Lê Nin”. Ông Gorbachev đã hứa sẽ làm cho các cơ sở kinh tế được độc lập hơn, làm tăng năng suất và cho người dân có thêm thông tin. Ông kêu gọi cải thiện quan hệ với phương Tây và Trung Cộng. Ông Gorbachev đã dùng chính sách “glasnost” hay “cởi mở” để canh tân Liên Xô, nhưng rồi chính ông lại là nạn nhân của chính sách cởi mở và đường lối dân chủ, mà ông đang cố gắng tìm kiếm phương cách để áp dụng sao cho thích hợp.                  
Giống như Sa Hoàng cuối cùng là Nicholas II, ông Gorbachev đã cố gắng hòa giải và tránh dùng sức mạnh. Tại Đông Âu, có vẻ như ông Gorbachev chấp nhận sự tan rã của các chế độ cộng sản tại vùng này vào năm 1989 và đã không hành động gì để tránh cho Bức Tường Bá Linh khỏi bị sụp đổ. Trong 30 năm, Bức Tường này đã là một pháo đài biểu tượng của sự ngăn cách giữa hai khối Đông và Tây mà đối với các nhà lãnh đạo Tây Phương, đáng lẽ ra nó phải được bảo vệ bằng các võ khí hạt nhân khi bị đe dọa chọc thủng. Tại Liên Xô, ông Gorbachev thường nói về cải cách và dân chủ hóa, ông đã cố gắng làm cho Xã Hội Chủ Nghĩa có thêm năng lực, hoạt động hơn, đồng thời cũng trấn an Đảng Cộng Sản rằng ông sẽ không làm tổn thương các quyền lợi đã được thiết lập vững chắc và từ lâu của giới cầm quyền Cộng Sản. Cố gắng của ông Gorbachev vừa mang lại dân chủ cho người dân Liên Xô, vừa duy trì chế độ cộng sản chuyên chế cuối cùng đã thất bại.        
 
II- Các đặc tính của các Xã Hội Cộng Sản    
1- Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản                      
Lý thuyết Mác Xít của giai đoạn đầu đã được Lênin bổ túc bằng mạng lưới tổ chức rất kỷ luật và chặt chẽ theo đó, đảng Cộng Sản là người tiền phong của giai cấp vô sản, là giai cấp lãnh đạo của toàn thể xã hội. Tại tất cả các quốc gia theo Cộng Sản hay theo Xã Hội Chủ Nghĩa, đảng Cộng Sản được Hiến Pháp dành cho “độc quyền về quyền lực” vì vậy mới có định luật “Dân làm chủ, Nhà Nước quản lý và Đảng lãnh đạo”. Định luật căn bản này đã được George Orwell diễn tả trong cuốn truyện “Trại Súc Vật” (the Animal Farm) theo đó “mọi con vật đều bình đẳng, nhưng cũng có một số con vật được bình đẳng hơn” (all animals are equal, but some are more equal). Tại các quốc gia cộng sản, các đảng viên Cộng Sản được hưởng thụ ưu thế “bình đẳng hơn” các người dân khác, họ là “chủ nhân của xã hội”. Các đảng viên cao cấp cùng gia đình của họ có quyền hưởng thụ nhiều tiện nghi như ở nhà tốt, đi xe công, điều trị trong các bệnh viện dành riêng, mua hàng tại khu bán hàng đặc biệt… tức là an hưởng một mức sống cao hơn hẳn các người dân thường. Đã có các tổ đảng bố trí tại mọi cơ sở, từ Quân Đội, thành phố, làng xã, nhà máy, trường học… Tổ chức Đảng là một cấu trúc theo hình kim tự tháp, với mệnh lệnh từ trên đưa xuống và các tổ đảng tại mỗi tầng lớp có nhiệm vụ nhận chỉ thị từ cấp trên, thi hành và theo dõi việc tuân thủ tại mỗi địa phương, cho tới giai tầng thấp nhất. Đảng và Nhà Nước (hay chính quyền) đã lẫn vào nhau trong công việc quản trị quốc gia.                 
Một đặc tính khác là trò chơi dân chủ. Chính quyền luôn luôn tổ chức các cuộc bầu cử và các đảng viên đều được đắc cử vẻ vang bởi vì họ thuộc giai cấp lao động nên được sự ủng hộ hoàn toàn của quần chúng. Nhưng trong các cuộc bầu cử này, thường chỉ có một ứng cử viên duy nhất do Đảng Cộng Sản đưa ra tại mỗi vị trí tranh cử, và mọi công dân bị bắt buộc phải tham gia vào công việc đi bầu khiến cho kết quả bỏ phiếu thường là 99 phần trăm hay 99.5 phần trăm và điều này dùng để chứng tỏ cho mọi người thấy rằng các đường lối của Đảng đã được dân chúng hoàn toàn chấp nhận một cách dân chủ.                  
Tổ chức Đảng theo hình kim tự tháp có phần đỉnh tháp gồm một tập thể nhỏ đảng viên đầy quyền lực, được gọi là “Nomenclatura” hay “tầng lớp thư lại chính trị”. Các đảng viên cao cấp này, trên cùng là Ban Bí Thư, Ủy Ban Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị, là những người thực sự cai trị đất nước. Sau các cuộc nổi dậy tại Đông Âu vào cuối năm 1989, người dân châu Âu và người dân các nước cộng sản đã sửng sốt khi nhìn thấy chiếu trên màn ảnh truyền hình các cảnh xa hoa đã bị che dấu và đã do các nhà lãnh đạo đảng hưởng thụ một cách kín đáo, từ các căn nhà lộng lẫy dùng làm nơi săn bắn, nghỉ mát của Honecker, các biệt thự bên trong có rất nhiều bức danh họa vô giá, các vòi nước mạ vàng của Ceausescu, các khách sạn rực rỡ của một số đảng viên Tiệp Khắc…      
Nomenclatura hay “tầng lớp thư lại chính trị” không chỉ gồm các đảng viên cao cấp trong Trung Ương Đảng, mà còn bao gồm các bộ trưởng trong chính phủ, các chủ tịch của nhiều công ty quan trọng, các giám đốc của những xí nghiệp và ngân hàng lớn và các sĩ quan cao cấp. Một phần quan trọng khác của Nomenclature là “tổ chức công an mật vụ”: tại Liên Xô có K.G.B., tại Đông Đức có Stasi, Securitate là của Romania, Sigurimi là của Albania… Hệ thống công an vừa bí mật, vừa có quyền hành ngang với quân đội, đã hiện diện tại khắp nơi, đã theo dõi và nắm chặt được xã hội, và hệ thống này có hàng triệu, hàng trăm ngàn mật báo viên, với tỉ lệ trong 10 người dân có một công an chìm.
                  
2- Ý thức hệ chỉ đạo Mác Xít- Lêninnít                 
Ý thức hệ Mác Xít/ Lênin-nít là tập thể các giáo điều, các công thức, các định luật… được lặp đi, lặp lại hàng triệu lần để làm ăn sâu vào đầu óc của mọi người dân sống trong các quốc gia cộng sản hay xã hội chủ nghĩa. Vào giai đoạn đầu của thời kỳ cộng sản, lý thuyết này đã được nhiều trường đảng giảng dạy như một thứ tôn giáo mới. Các đảng viên cộng sản cuồng tín có thể tranh luận về lý thuyết xã hội này hàng giờ mà không nghỉ và qua nhiều năm, giáo điều Mác Lê đã trở thành một thứ thánh kinh, một lá bùa hộ mệnh cho mọi người.                  
Ý thức hệ Mác-Lê gồm các điều căn bản chính như sau:      
   - Lịch sử của loài người đi từ giai đoạn này qua giai đoạn khác bằng các cuộc đấu tranh giai cấp.      
   – Đảng Cộng Sản là người tiền phong của giới lao động, là đại diện của giai cấp vô sản.      
   - Phe đế quốc với Hoa Kỳ là tên đầu sỏ, chủ trương bóc lột công nhân và áp bức các dân tộc khác trên thế giới, nên là lực lượng phản xã hội, phản cách mạng.      
   – Liên Xô là cái nôi của xã hội chủ nghĩa và là lực lượng bảo vệ các dân tộc bị áp bức.      
   - Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa rất khoa học, không bóc lột nhân công. Marx đã tiên liệu rằng cách chỉ huy từ trung ương về kỹ nghệ và nông nghiệp sẽ bảo đảm sự hữu hiệu kinh tế, công việc làm lâu bền và lợi tức đồng đều.                  
Tại các quốc gia cộng sản, từ bậc tiểu học cho tới bậc trung học, các học sinh phải học thuộc lòng các giáo điều căn bản Mác Lê và các sinh viên đại học phải theo các khóa học Mác Xít- Lênin-nít. Người dân đều thuộc lòng những câu hứa hẹn như “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Trong các nước cộng sản theo đường lối bảo thủ như Romania và Bulgaria, không một ai có quyền thắc mắc tranh luận về ý thức hệ này. Tại Tiệp Khắc, người dân không tin vào các giáo điều Mác Lê nhưng cũng “trả bài” cho qua việc, còn tại Hungari và Ba Lan, việc nhồi sọ bằng lý thuyết cộng sản dần dần trở nên hời hợt, cho tới khi nhà lãnh đạo cộng sản Romania là Nicolae Ceausescu nói về “đỉnh cao trí tuệ của chủ nghĩa cộng sản” (the radiant summits of Communism) vào tháng 12 năm 1987 thì các người dân đói ăn đã không còn tin tưởng vào ông ta nữa.                  

3- Nền kinh tế chỉ huy
                  
Nền kinh tế chỉ huy của Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa còn được gọi là nền kinh tế Mác Xít, hay nền kinh tế được hoạch định từ trung ương. Trong nhiều năm, nền kinh tế này được mọi báo chí, sách vở ca tụng là khoa học nhất, hiện đại nhất vì đi trực tiếp vào đời sống xã hội. Nền kinh tế này có các đặc tính như sau:                  
a) Kế hoạch từ trung ương: các kế hoạch kinh tế đều do bộ máy thư lại rất to lớn quyết định. Mọi kinh doanh cá nhân, mọi sáng kiến không được hoan nghênh mà còn bị xách nhiễu, trừng phạt… vì đi lệch khỏi đường lối của đảng.                  
b) Kiểm soát giá biểu: các cơ quan nhà nước ấn định mọi giá biểu và giá biểu này đã không gia tăng trong nhiều năm. Các người cộng sản thường tự phụ rằng trong xã hội của họ không có nạn lạm phát, trong khi đó thực phẩm và hàng hóa thường xuyên bị khan hiếm, gây nên nạn buôn bán chợ đen, nạn làm hàng giả…                  
c) Nhà Nước là chủ nhân chính và duy nhất thuê mướn nhân công. Hầu như tất cả dân chúng đều làm việc cho Nhà Nước, tức là chính quyền. Tại các quốc gia tư bản, các người lao động bị bóc lột thực, nhưng họ có tự do đổi chủ khi không muốn làm việc vì lương bổng thấp, vì bị chèn ép, bởi vì trong xã hội tư bản có hàng trăm ngàn ông chủ nhỏ để họ chọn lựa. Nhưng trong các nước cộng sản, ngoài chính quyền ra, không có cơ sở tư nhân thuê mướn người. Nhà Nước là “ông chủ duy nhất” và người dân muốn có ăn phải làm công cho ông chủ này với giá rẻ mạt. Vào giai đoạn đầu của thời kỳ cộng sản, hầu như không có nạn thất nghiệp nhưng thường xuyên có nạn xử dụng nhân lực dưới mức hữu hiệu (underemployment). Cũng ít có cảnh một kỹ sư bị sa thải vì bất tài nhưng trái lại người kỹ sư rất dễ bị đuổi việc vì một lý do chính trị. Người cộng sản thường tự hào rằng trong chế độ của họ, người dân có chiếc chén (bát) ăn bằng thép, không thể bị bể vỡ, nhưng ngược lại, thực phẩm và nhu yếu phẩm do Nhà Nước cung cấp lại quá ít, nhiều thứ không có. Do lương bổng và lợi tức của người dân rất thấp nên cả hai giới “lao động chân tay” và “lao động trí óc” đều làm việc cầm chừng, họ tìm cách trốn việc, ăn cắp của công và không ai có sáng kiến hay cố gắng xây dựng.                 
d) Chú trọng vào kỹ nghệ nặng. Đặc tính này bắt nguồn từ sở thích của Stalin, quan tâm tới các tổ hợp kỹ nghệ to lớn nhưng đa số các cơ xưởng vĩ đại này đều hoạt động không hữu hiệu, đều thiếu sự phối hợp với nhau, nặng về báo cáo và trình diễn và không đáp ứng nhu cầu của thị trường. Mọi ưu tiên được dành cho các cơ sở kỹ nghệ vì thế mà tại nước Romania chẳng hạn, các nhà máy dùng nhiều điện lực hơn tất cả các nhà dân.                  
e) Hệ thống ngân hàng cổ lỗ và không phát triển. Tại các quốc gia cộng sản và xã hội chủ nghĩa, mọi công việc trao đổi được thanh toán bằng tiền mặt, kể cả lương bổng hay các dịch vụ thương mại và kỹ nghệ. Đã không có các hệ thống tài chính như quỹ tiết kiệm, thẻ tín dụng, chương trình mua hàng trả góp…Tài sản của người dân thường bị cất dấu vì họ không tin vào tổ chức ngân hàng. Họ đã bị lường gạt nhiều lần và e sợ bị kết tội là tư sản.                 
f) Nhu cầu đời sống bị thiếu thốn và mọi dịch vụ bị lơ là. Do việc yểm trợ tối đa cho kỹ nghệ nặng, người dân không được cung cấp đầy đủ các nhu yếu phẩm. Đã thiếu hẳn các cửa hàng, các quán ăn, các văn phòng dịch vụ… Sự thiếu hụt thường thay đổi từ nước cộng sản này sang nước xã hội chủ nghĩa khác, chẳng hạn như Romania luôn luôn thiếu thực phẩm còn các nước khác như Hungari hay Tiệp Khắc lại không có đủ nhiều mặt hàng gia dụng khác. Kinh tế, giáo dục, y tế… là vài mặt yếu, không được Nhà Nước quan tâm.                  
g) Nạn chợ đen và hối lộ. Để bổ túc cho hệ thống kinh tế không hoạt động hữu hiệu, đã xẩy ra nạn chợ đen, cách buôn bán bằng trao đổi hàng hóa và hệ thống móc ngoặc. Tài sản của nhà nước thường bị ăn cắp, lãng phí và các nhân viên công quyền thường nhận hối lộ để cải thiện đời sống gia đình, khiến cho nạn tham nhũng, nạn quà cáp lan tràn tại mọi giai tầng xã hội. Ngoài ra còn có rất nhiều tệ nạn khác như buôn lậu, mãi dâm, ma túy, tội phạm… mà các báo chí không dám nói ra và các nhà cầm quyền địa phương làm ngơ vì bất lực.                  
Sau các thời kỳ khủng bố như dưới chế độ Stalin, người dân trong các nước cộng sản đã bớt bị đàn áp một cách tàn nhẫn. Họ đã hiểu rõ về quyền lực của chính quyền và về thân phận yếu hèn của họ. Họ biết rằng các chống đối chính trị, hay ngay cả những lời chỉ trích không kín miệng có thể khiến họ mất đi khẩu phần nhu yếu phẩm hay công việc làm ăn, hoặc cả hai. Đối với đa số người dân dễ bảo, họ được cung cấp nền giáo dục và cách chăm sóc y tế miễn phí nhưng cả hai thứ này đều thuộc loại kém phẩm chất. Người dân thường ngày phải “xếp hàng cả ngày” để mua hàng theo sổ phân phối hoặc lãnh các trợ giúp nhỏ mọn của chính quyền. Họ thường bất mãn vì các nhân viên phục vụ khó tính, các công nhân viên hạch xách giấy tờ và gây ra nhiều khó khăn trong dịch vụ bằng các mẫu đơn, các luật lệ, “các thủ tục đầu tiên”! Sau một ngày lao động vất vả ngoài xã hội, người dân khi trở về nhà lại gặp cảnh cúp điện, cúp nước, cúp săng.      
Một đặc tính khác của các xã hội cộng sản hay xã hội chủ nghĩa là số lượng các cấm đoán và các luật lệ, khiến cho mọi người đã phải nói rằng tại các nước phương tây, “điều gì không bị cấm đoán rõ ràng thì được coi là cho phép”, còn dưới chế độ cộng sản, “những gì không được cho phép rõ ràng đều bị coi là cấm đoán”. Tại Liên Xô cũng như tại nhiều quốc gia cộng sản khác, người dân không được phép tự do đi ra nước ngoài và hơn nữa, còn phải có “giấy phép đi đường” để đi lại trong xứ. Việc xin đi du lịch ra nước ngoài là một khó khăn lớn, người dân Đông Âu chỉ được qua lại giữa các nước Đông Âu còn tại các nước thuộc miền Balkan ngoại trừ Nam Tư, việc đi qua các xứ tây phương hoàn toàn bị cấm đoán. Trong nhiều thập niên, tại các quốc gia cộng sản, đã không có hệ thống điện thoại dành cho dân chúng, việc giao hàng thường chậm chễ và nhiều mệnh lệnh từ cấp trên đưa xuống rất vô lý, không thích hợp với địa phương.      
Về phương diện thông tin, giới truyền thông của cộng sản chỉ đề cập tới mặt trái của các xã hội tây phương và không ngừng kết tội các thói xấu đó, đồng thời tâng bốc các thành quả của xã hội chủ nghĩa. Cách bóp méo sự thật của các cơ quan tuyên truyền cộng sản đã khiến cho người dân của các nước này không tin tưởng vào chính quyền nên tìm cách nghe lén các đài phát thanh, coi lén các chương trình truyền hình của khối tây phương.      
Các cơ quan truyền thông của cộng sản hay xã hội chủ nghĩa còn theo đuổi công việc tôn sùng và quảng cáo cá nhân. Nhân vật được Liên Xô ca tụng nhất, được đưa lên hàng thần thánh hay thiên tài là Joseph Stalin. Trong nhiều chục năm, nhiều nước cộng sản đã từng ca ngợi Stalin là nhà lãnh tụ thông thái nhất, được kính yêu nhất, là một vị anh hùng trong chiến tranh và cũng là một nhà khoa học xuất chúng. Ngoài Stalin, còn có Lenin, Karl Marx, các tổng bí thư đảng… với tên của họ được đặt cho các thành phố, đại lộ, tượng được dựng tại các công viên và hình ảnh được đóng khung, treo trên tường cao. Tại các nước cộng sản Đông Âu, người dân phải tôn kính các lãnh tụ như Tito tại Nam Tư, Hoxha tại Albania và Ceausescu tại Romania.       

III- Gốc rễ của chế độ Cộng Sản bị lay chuyển
                  
Sự sụp đổ của Đế Quốc Cộng Sản Liên Xô là do rất nhiều lý do nội tại trong đó phải kể đến các lý do chính, đó là do nền kinh tế tuột dốc của Liên Xô, là do một hệ thống chính trị được đặt căn bản trêncác chủ trương “bịp bợm, khủng bố và sợ hãi” và cuối cùng là do sự phá sản của ý thức hệ Mác Xít – Lê nin-nít, một ý thức hệ không tưởng, thiếu thực tế, chỉ gồm những lời hứa hẹn suông quá rực rỡ, nhưng đã đánh lừa được hàng trăm triệu người trên toàn thế giới trong một thế kỷ!                  
Ông Mikhail S. Gorbachev là một nhân vật của thời cuộc, đã cố gắng phục hồi lại Đế Quốc Liên Xô. Ông đã bổ nhiệm những người tin cẩn nắm giữ các chức vụ then chốt tại các cơ quan mật vụ KGB, công an, lực lượng quốc phòng, kể cả Phó Chủ Tịch và Thủ Tướng cùng các cơ sở quan trọng khác. Ông Gorbachev được giới tây phương coi là nhân vật lãnh đạo có đầu óc sáng tạo nhất của hệ thống Xô Viết kể từ trước tới nay, nhưng chính vì cách nới lỏng việc kiểm soát chặt chẽ quần chúng, cách giảm bớt sự đe dọa và nỗi sợ hãi của người dân, cách lắng nghe đôi chút ý muốn của người dân để có thể thúc động nền kinh tế trong nước, cách cho xã hội Liên Xô một đôi phần “tự do”, thứ mà đất nước này đã thiếu thốn từ lâu… tất cả đã đưa lại sự sụp đổ và điều tương tự này đã xẩy ra tại Iran vào năm 1979 và tại khối cộng sản Đông Âu vào năm 1989.                  
Ngày 11/3/1985, ông Mikhail S. Gorbachev được chọn làm Tổng Bí Thư mới. Sau khi nhận chức, ông Gorbachev bắt đầu ngay các chương trình chống nghiện rượu, chống tham nhũng và tìm kiếm nhiều cách cải tổ. Trước 5,000 đại biểu và qua hệ thống truyền hình, ông Gorbachev đã hùng hồn đề cập tới các chính sách đổi mới. Ông Gorbachev đã biện hộ cho các thay đổi về kinh tế gồm những thứ mà người dân Liên Xô chưa từng được nghe đến, chẳng hạn như các sức mạnh thị trường (market forces), sáng kiến tài chánh, tự trị địa phương và xí nghiệp tư nhân. Chính sách “Glasnost” hay “cởi mở” và “Perestroika” hay “tái cấu trúc kinh tế” là hai mục tiêu mới của ông Gorbachev, và vào ngày 28/1/1987 Uũy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Liên Xô đã ủng hộ các cải cách về kinh tế và xã hội của ông Gorbachev.                  
Ông Gorbachev cũng ra đường phố, gặp mặt và bắt tay chào hỏi dân chúng. Hình ảnh khiêm tốn và thân mật của ông bà Gorbachev đã là những điều hoàn toàn mới lạ đối với quần chúng Liên Xô từ trước tới nay bị đóng khuôn trong nghi thức vì sự xa cách người dân của các nhà lãnh đạo đất nước. Ông Gorbachev còn nói rõ vào ngày 2/11/1987 rằng Stalin đã phạm phải các tội ác to lớn và ông tìm cách thực hiện các bước cải tiến cụ thể hơn, đó là chú ý tới phạm vi “nhân quyền” (the human rights area). Nhà lãnh đạo đối lập người Do Thái là Anatoly B. Shcharansky được thả ra khỏi nhà tù vào ngày 11/2/1986 khiến cho bà mẹ của ông ta đã phải nói:”Tôi nghĩ là đã có một cuộc giải phóng. Cần phải có một người dám làm công việc đó”. Tới cuối năm 1986, ông Gorbachev cũng gọi điện thoại cho Tiến Sĩ Andrei D. Sakharov và cho biết ông Sakharov được phép trở về Moscow. Andrei Sakharov là nhà vật lý kiêm nhà hoạt động nhân quyền (human rights activist) hiện đang bị lưu đầy tại Gorky. Tin tức này đã làm cho cộng đồng những người bất đồng chính kiến lên tinh thần bởi vì tại các nước Cộng Sản, việc chống đối chính quyền chỉ mang lại sự giam cầm, sự tra tấn, cảnh chết chóc hay cảnh lưu đầy.                  
Chính sách Glasnost hay “cởi mở” của ông Mikhail S. Gorbachev có chủ đích làm cho Đế Quốc Liên Xô không còn bị trì trệ hay ở trong trạng thái “ngủ đông” bởi vì xã hội Liên Xô đang bị sói mòn, đang bị giảm tốc. Chính sách này đã làm tan đi sự “băng giá” kinh tế tại Liên Xô và có vẻ như mỗi ngày, các hạn chế trước kia được nới rộng, nhiều người dân Liên Xô đã bàn tán về các cải tiến sắp tới. Thế nhưng sự cởi mở kể trên lại gặp ngay các giới hạn. Tai họa của lò phản ứng nguyên tử tại Chernobyl trong xứ Ukraine, không xa thành phố Kiev là bao, xẩy ra vào ngày 26/4/1986, đã khiến cho các nhà cầm quyền Xô Viết bối rối, bởi vì họ thường che đậy các thất bại, không muốn phổ biến “sự thật”, không muốn nói tới “tai họa” đó. Mãi tới ngày 14/5/86, ông Gorbachev mới báo cáo về tai họa Chernobyl cho dân chúng biết. Chính sự chậm chễ về thông tin từ nhà cầm quyền tại Moscow đã thúc đẩy xứ Ukraine đòi độc lập sau này.                  
Cách đề cập tới hai đặc tính “cởi mở” và “dân chủ hóa” của ông Gorbachev đã gây nên bối rối cho các đảng viên Cộng Sản kỳ cựu bởi vì họ gặp khó khăn trong việc theo dõi và kiểm soát chặt chẽ dân chúng cũng như xứ sở trong tương lai. Ngày 23/4/1987, lãnh tụ Cộng Sản Đông Đức là ông Erich Honecker đã cho biết Đông Đức sẽ không theo kiểu mẫu “cởi mở” và “tái cấu trúc” của Liên Xô. Ông Honecker đã chỉ trích nhà cầm quyền Liên Xô là có ý định “viết lại lịch sử Xô Viết theo đường lối tư sản” (attempting to rewrite Soviet history in a bourgeois manner). Trong cuộc viếng thăm xứ Romania vào các ngày từ 25 tới 27/5/1987, bài nói chuyện đề cập tới hai chính sách “cởi mở” và “tái cấu trúc” của ông Gorbachev đã không được các nhà cầm quyền Romania hoan hỉ chấp nhận. Về sau, ông Ceausescu đã nói rằng xứ Romania không cần các thay đổi bởi vì đất nước này đang tiến tới “đỉnh cao trí tuệ của chủ nghĩa Cộng Sản” (radiant summits of Communism).                  
Chính sách “cởi mở” cũng khiến cho nhiều “người quốc gia” (nationalists) lên tiếng chống lại chính quyền Moscow. Trước kia, chỉ một chút chống đối Moscow cũng đã dẫn tới cảnh bắt bớ, cảnh tra tấn và nạn tù đầy bởi cơ quan mật vụ KGB, trong khi đó các xứ sở không-thuộc-Nga (non-Russian areas) vẫn thường bất mãn. Thế nhưng sự chống đối ông Gorbachev đã bắt đầu bởi ông Boris N. Yeltsin, người cầm đầu đảng Cộng Sản của thành phố Moscow. Trong cuộc hội họp của Uũy Ban Trung Ương Đảng vào ngày 21/10, ông Yeltsin đã chỉ trích hai ông Yegor K. Ligachev, nhà lãnh tụ bảo thủ của Bộ Chính Trị và ông Mikhail S. Gorbachev vì sự chậm chạp trong tiến trình đổi mới. Ông Yeltsin liền bị loại khỏi đảng vào ngày 11/11 vì bị ông Gorbachev buộc tội là có tham vọng cá nhân và tính kiêu căng.                  
Tới tháng 2 năm 1988, đã xẩy ra hai sự việc quan trọng. Ngày 8/2, ông Gorbachev tuyên bố rằng Liên Xô sẽ rút quân đội ra khỏi Afghanistan và việc rút quân này sẽ được thực hiện trong vòng 10 tháng. Thực vậy, từ ngày 15/2/1989, tất cả quân đội Liên Xô từ từ rút lui về nước. Sau 9 năm chiến tranh không mang lại chiến thắng, 15,000 binh lính Liên Xô đã bị giết, hơn một triệu quân sĩ và thường dân Afghanistan cũng bị thiệt hại. Liên Xô đã thua trận tại Afghanistan! Sự việc thứ hai là vào ngày 11/2, hàng ngàn người đã biểu tình tại Nagorno-Karabakh, đòi hỏi miền này phải được sát nhập vào nước Armenia. Đã xẩy ra sự tranh chấp giữa các người gốc Armenia và gốc Azerbaijan trong trong cuộc xô sát tại Sumgait vào ngày 28/2/1988 với 23 người bị chết.      
Chính sách nới lỏng mức độ kiểm soát cũng khiến cho người dân các xứ Lithuania và Estonia đòi độc lập và vào ngày 20/6/1988, chính quyền cộng sản Liên Xô chính thức công nhận Phong Trào Nhân Dân Estonia (the People’s Front of Estonia). Đây là một tổ chức chính trị không cộng sản đầu tiên được công nhận tại Liên Xô rồi sau đó, vào ngày 1/10/1988, Phong Trào Bình Dân Estonia ủng hộ chương trình Perestroika (the Estonian Popular Front for Perestroika) khai mạc đại hội. Tới ngày 9/10/88, Phong Trào Bình Dân Latvia (the Latvian Popular Front) cũng tổ chức đại hội. Các sắc dân thiểu số này đã nhấn mạnh tới sự khác biệt với những sắc dân bên cạnh, họ đề cao các nét đặc thù về văn hóa và dân tộc.      
Tại Ba Lan, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã thăm viếng xứ này vào các ngày 8 tới 14 tháng 6 năm 1987, Ngài đã đề cập tới vấn đề nhân quyền và nền chính trị đa nguyên. Nền kinh tế của Ba Lan tuột dốc vào tháng 2/1988, giá biểu hàng hóa và dịch vụ đã gia tăng trung bình 27%, thực phẩm căn bản tăng 40%, săng và điện tăng 100%, than đá tăng 200%. Đã xẩy ra các cuộc biểu tình phản đối tại 2 thành phố Warsaw và Gdansk rồi sau đó, sự việc giá biểu lại gia tăng nữa đã gây nên các cuộc đình công trong 2 tuần lễ. Cuộc bầu cử địa phương được tổ chức vào ngày 19/6 nhưng chỉ có 55 % người đi bầu bởi vì Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarity) đã kêu gọi người dân Ba Lan tẩy chay các cuộc bầu cử. 55 % là tỉ lệ đi bầu thấp nhất kể từ khi chế độ cộng sản bắt đầu cai trị xứ sở này. Các cuộc đình công, bắt đầu vào ngày 15/8/1988 tại các mỏ than Silesian, đã lan qua các thành phố khác và các người đình công đòi hỏi việc hợp pháp hóa Công đoàn Đoàn Kết. Ngày 31/8, ông Lech Walesa bắt đầu thảo luận với Bộ Trưởng Nội Vụ Czeslaw Kiszczak nhưng tới ngày 31/10, chính quyền tuyên bố rằng họ sẽ đóng cửa khu đóng tầu Lê Nin của thành phố Gdansk. Đây là nơi ra đời và là thành trì của Công đoàn Đoàn Kết.      
Các đề nghị “cởi mở” của ông Gorbachev cho phép người dân bầu cử bằng phiếu kín, đã gặp phải phản ứng ngược, đã mở lối cho dân chúng dùng lá phiếu để khinh thường việc quản lý đời sống và xã hội của các đảng viên cộng sản, còn tại các đại hội, đã xẩy ra nhiều tranh luận công khai giữa các đại biểu đảng. Đây là điều trái ngược với các truyền thống ngột ngạt của hệ thống chính trị Xô Viết, bởi vì các quyết định thường được soạn thảo từ trước và đại hội chỉ là một hình thức chấp thuận, không bàn cãi.      
Tháng 10 năm 1988, ông Mikhail S. Gorbachev chính thức được bầu làm Chủ Tịch Nước và vào tháng 12, kế hoạch cải tổ của ông đã được cơ quan hành pháp Xô Viết chấp nhận để tạo thêm quyền lực cho chức vụ Chủ Tịch. Nhưng khi tham dự buổi họp của Liên Hiệp Quốc tại New York cũng vào tháng 12 năm đó, ông Gorbachev đã phải quay về Liên Xô gấp bởi vì cuộc động đất tại xứ Armenia với độ mạnh 6.9 trên địa chấn kế Richter, đã giết chết tối thiểu 25,000 người, gây đau khổ cho toàn thể địa phương.      
Vào mùa hè năm 1988, ông Gorbachev đã chấp thuận việc tổ chức bầu cử các đại biểu nhân dân vào Quốc Hội. Đây là một cơ chế mà ông Gorbachev nghĩ rằng có thể điều khiển được. Thế nhưng vào ngày 26/3/1989, kết quả của cuộc bầu cử đã khác trước, với ông Boris N. Yeltsin là đại biểu độc lập duy nhất thắng cử rất vẻ vang tại thành phố Moscow. Nhiều ứng viên gốc là đảng viên Cộng Sản kỳ cựu đã bị đánh bại bởi các đại biểu từ những nhóm độc lập. Quốc Hội này đã trở thành một cơ quan lập pháp mới với tư tưởng tự do, trông đợi các đổi mới. Các nhân viên Bộ Chính Trị và nhiều đảng viên Cộng Sản kỳ cựu không còn thao túng Quốc Hội mới dễ dàng như trước, điều này đã khiến cho các đảng viên Cộng Sản bảo thủ rất lo lắng, họ cho rằng đây có thể là cơ hội để ông Gorbachev mở cửa cho “nạn lũ lụt” tràn vào.      
Uy tín của đảng Cộng Sản đang tuột dốc, nhịp độ thay đổi chính trị đang ra khỏi tầm kiểm soát của các đảng viên Cộng Sản! Trong khi đó, nền kinh tế phá sản đã gây nên những vấn đề nghiêm trọng cho ông Gorbachev. Ngày 9/4/1989, cuộc biểu tình đòi độc lập tại thành phố Tbilisi, thuộc nước cộng hòa Georgia đã bị quân đội Liên Xô đàn áp một cách tàn nhẫn, 20 người chết vì hơi ngạt hoặc vì bị đánh đập, rồi tới ngày 20/4, ông Andrei Sakharov được bầu làm đại biểu nhân dân của Quốc Hội. Ngày 25/5/89, ông Mikhail S. Gorbachev được Quốc Hội Liên xô bầu làm Chủ Tịch của Xô Viết Tối Cao (the Supreme Soviet) nhưng tới ngày 31/5, ông Gorbachev đã bị ông Boris N. Yeltsin chỉ trích vì sự thất bại của chương trình Perestroika. Ông Yeltsin cũng tấn công giới Nomenclature tức là giới thư lại quan liêu của đảng Cộng Sản, còn tại nội bộ của Quốc Hội Liên Xô, khoảng 300 đại biểu cấp tiến trong đó có cả hai ông Yeltsin và Sakharov, đã tạo nên một nhóm đối lập không chính thức.      
Vào các ngày 3, 4 và 7, 8 tháng 6 năm 1989, các cuộc xung đột chủng tộc đã xẩy ra tại Uzbekistan giữa những người Uzbeks và Meshketians, khiến cho 90 người bị chết, hơn 1,000 người bị thương. Bạo động do chủng tộc cũng diễn ra vào hai ngày 16 và 17 tháng 6 tại Kazakhstan với 4 người chết, 53 người bị thương. Tới ngày 10 tháng 7, 100,000 thợ mỏ thuộc khu mỏ than Kuzbass tại miền tây Siberia đình công, đòi trả lương và cởi mở chính trị. Các cuộc đình công đã lan qua vùng mỏ Donbass thuộc miền đông của xứ Ukraine và các mỏ than khác.      
Đồng thời với các phản đối của giới lao động thợ mỏ sống rải rác trên nhiều miền đất nước của Liên xô, hơn 400 đại biểu của 3 quốc gia thuộc vùng biển Baltic cũng hội họp tại thành phố Tallin, thuộc xứ Estonia. Họ thuộc các Phong Trào Bình Dân Estonian, Latvian và tổ chức Sajudis của Lithuania. Rồi hơn 1 triệu người của 3 nước Estonia, Lithuania và Latvia đã “nối vòng tay lớn”, một biểu tượng đoàn kết vào ngày 23/8/89, tạo nên một chuỗi người dài 360 dặm, để kỷ niệm 50 năm Hiệp Ước Xô Viết – Đức Quốc Xã ký vào năm 1939. Đây là hiệp ước đã cho phép sát nhập ba nước thuộc vùng biển Baltic vào khối Cộng Sản Xô Viết. Những người kể trên đòi hỏi được độc lập khỏi nền cai trị Xô Viết.      
Các phong trào quốc gia khác cũng diễn ra tại miền Trung Á. Ngay cả nước cộng hòa Ukraine cũng đòi tự trị, với phong trào nhân dân gọi tên là Rukh. Đây chính là nỗi “kinh hoàng” của ông Gorbachev bởi vì xứ Estonia chẳng hạn, chỉ có 1.5 triệu dân, các đòi hỏi của xứ sở này không thể so sánh với xứ Ukraine với 50 triệu dân, với diện tích bằng nước Pháp hoặc nước Ý. Vì thế có người cho rằng việc Liên Bang Xô Viết sống còn hay không, không tùy thuộc vào xứ Estonia mà vào xứ Ukraine. Hiểm nguy của các phong trào đòi chia tách đang hiện ra.      
Ngoài các cuộc thăm viếng các nước tây phương, gặp gỡ Tổng Thống Ronald Regan vào tháng 12/1986 tại Reykjavik, Hội Nghị Thượng Đỉnh tại Washington vào tháng 12/1987, ông Mikhail S. Gorbachev cũng thường xuyên liên lạc với các nhà lãnh tụ cộng sản của khối Đông Âu. Đây là các quốc gia hoàn toàn lệ thuộc vào Liên Xô để sống còn. Trong quá khứ, quân đội Liên Xô đã từng đàn áp các phong trào đòi độc lập như tại Hungari vào năm 1956, tại Tiệp Khắc vào năm 1968 và do áp lực của Liên Xô mà nước Ba Lan phải ban hành luật giới nghiêm năm 1981. Các nước cộng sản Đông Âu dù bị chế độ cộng sản kiểm soát chặt chẽ, nhưng khi được hành động tự do, họ đều tìm cách thoát ra khỏi ảnh hưởng của Liên Bang Xô Viết, đoạn tuyệt với chủ nghĩa cộng sản ảo tưởng, bởi vì “thánh kinh Mác Lê” đã không mang lại cho người dân “cơm no, áo ấm” nên không còn được ưa chuộng nữa.      
Các thay đổi vẫn diễn ra từ từ. Tại Ba Lan và Hungari là 2 nước được tự do nhất của khối Đông Âu, chính quyền đã tổ chức các cuộc bầu cử. Tiếp theo, đã có hàng ngàn người Đông Đức bỏ chạy sang các quốc gia tây phương qua ngả Hungari và Tiệp Khắc. Tại Tiệp Khắc, Đông Đức và Romania, hàng ngàn dân chúng đã xuống đường đòi độc lập khỏi khối Liên Xô. Trước những phong trào “đòi độc lập” này, ông Gorbachev rất có thể dùng quân đội Liên Xô để đàn áp thẳng tay các người chống đối, dẹp tan các phong trào nổi dậy, giống như ông Brezhnev đã từng làm trước kia, nhưng trước các biến cố quan trọng này, ông Gorbachev cho rằng việc phục hồi nền kinh tế đang thảm bại của Liên Xô được coi là rất quan trọng cho sự sống còn của quyền lực Xô Viết, vì thế ông Gorbachev đã không ra tay.      
Từ ngày 6 tới ngày 10 tháng 8 năm 1989, Đảng Công Nhân Xã Hội Hungari, tức là Đảng Cộng Sản, được tái cấu trúc và được gọi là Đảng Xã Hội Hungari với lời hứa thực hiện chính sách dân chủ đa đảng (multiparty democracy) và nền kinh tế thị trường rồi sau đó, một tu chính án được thêm vào Hiến Pháp đã mô tả Hungari là một quốc gia độc lập. Hungari cũng trở thành “nước Cộng Hòa Hungari” vào ngày 23/10/1989.      
Nền kinh tế thị trường cũng được nước Ba Lan chấp nhận vào tháng 10-89 với thị trường chứng khoán mở ra đầu tiên tại Warsaw. Tháng 10 năm đó, các bộ trưởng ngoại giao của các quốc gia trong khối quân sự Warsaw đã họp nhau tại Ba Lan, bác bỏ chủ thuyết Brezhnev và công bố một chính sách mới, xác nhận mỗi quốc gia Đông Âu có chủ quyền tuyệt đối, có quyền quyết định về các cách phát triển riêng. Đường lối mới này được gọi là “Chủ Thuyết Sinatra”, theo bài hát “I did it my way = tôi làm theo cách của tôi” của ca sĩ lừng danh Frank Sinatra. Ngày 17-19 tháng 11/89, Tối Cao Xô Viết của xứ Georgia xác nhận nước cộng hòa này có quyền tách ra khỏi Liên Xô rồi vào ngày 7/12, Tòa Án Tối Cao của xứ Lithuania phủ nhận “vai trò lãnh đạo” của đảng Cộng Sản đồng thời vào hai ngày 19 và 20 tháng 12/89, đảng Cộng Sản Lithuania công bố độc lập khỏi đảng Cộng Sản Liên Xô.      
Tại Bulgaria vào ngày 3/11/89, 4,000 người đã biểu tình đòi dân chủ trước trụ sở Quốc Hội, đây là cuộc phản đối lớn nhất kể từ năm 1947. Ngày 10/11, lãnh tụ đảng Todor Zhivkov phải từ chức và bộ trưởng ngoại giao Petur Mladenov lên thay thế, đã hứa hẹn sẽ biến đổi nước Bulgaria thành một quốc gia dân chủ, cai trị theo luật pháp. Tại xứ Romania, Đại Hội Đảng Cộng sản lần thứ 14 họp vào các ngày 20-24 tháng 11/89, đã bầu lại ông Ceausescu vào chức Tổng Bí Thư Đảng một nhiệm kỳ 5 năm nữa nhưng tới ngày 16/12 năm đó, hàng ngàn người đã biểu tình tại Timisoara, phản đối việc lưu đầy mục sư Tin Lành Lazslo Tokes. Các đám đông đã tràn vào các tòa nhà chính phủ và ông Ceausescu cùng bà vợ Elena phải chạy trốn bằng máy bay trực thăng. Các người nổi dậy đã tổ chức thành Mặt Trận Cứu Quốc (National Salvation Front = NSF). Ngày 25/12/89, lãnh tụ cộng sản Nicolae Ceausescu và bà vợ Elena đã bị một tòa án quân sự xét xử là có tội với nhân dân và bị xử bắn ngay lập tức! Trái với cuộc cách mạng đẫm máu này, là “Cuộc Cách Mạng Nhung” (the Velvet Revolution) diễn ra tại Tiệp Khắc do ông Vaclav Havel.      
Do vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản bị phủ nhận tại các xứ Lithuania vào ngày 7-12-89, tại Latvia vào ngày 11/1/90, tại Estonia vào ngày 23-2-90, ông Gorbachev đã tới thành phố Vilnius để yêu cầu xứ Lithuania hãy đứng trong khối Liên Xô, rồi tới ngày 13/4/90, ông Gorbachev đã ra một tối hậu thư, cho biết nước Lithuania sẽ bị cắt hết yểm trợ của Liên Xô nếu không hủy bỏ các biện pháp “đòi độc lập”, nhưng cuối cùng, xứ Lithuania đã vượt qua được mọi khó khăn.      
Vấn đề đòi hỏi dân chủ không chỉ diễn ra tại các nước Đông Âu mà còn xẩy ra ngay tại Liên Xô. Trước khi Ủy Ban Trung Ương Đảng Liên Xô họp sau ngày 1/5/90, đã có 100,000 người thuộc các nhóm đối lập tụ họp trước Điện Cẩm Linh, đòi phủ nhận quyền cai trị của Đảng Cộng Sản và ông Gorbachev. Uy tín của ông Gorbachev cũng bị tuột dốc kể từ ngày 7/2/90 khi đảng Cộng Sản Liên Xô đồng ý từ bỏ “độc quyền lãnh đạo” đất nước và tổ chức lại chính quyền theo hệ thống mới, có Tổng Thống và Nội Các như các nước tây phương. Do đó, vào ngày 12/6, Quốc Hội Liên Xô đã bầu ông Boris Yeltsin làm Tổng Thống mặc dù các vận động ngăn trở ngầm của ông Gorbachev. Trong thời gian này, quân đội Liên Xô đã tràn vào 2 xứ Lithuania và Latvia, chiếm đóng các công sở, gây nên nhiều thiệt hại, để làm áp lực, bắt buộc 2 xứ này không được tách ra khỏi Khối Liên Xô, thì ông Boris Yetlsin lại tới thành phố Vilnius để ủng hộ chính quyền địa phương đòi độc lập này. Ông Yeltsin cũng lên đài truyền hình Liên Xô vào ngày 19/2/90, kêu gọi ông Gorbachev hãy “từ bỏ độc quyền cá nhân” và hãy chấm dứt “lừa dối nhân dân” (deceiving the people).Tháng 6 năm đó, sau cuộc phổ thông đầu phiếu đầu tiên được tổ chức trong lịch sử của nước Nga, ông Boris Yeltsin được bầu làm Tổng Thống của nước Nga (Russia).      
Trước các đe dọa đối với quyền lực của Đảng Cộng Sản, các đảng viên cứng dắn đã tổ chức một cuộc đảo chánh vào ngày 19/8/1991 để lật đổ các lực lượng dân chủ mà người đứng đầu là ông Boris Yeltsin. Ngày 21/8, cuộc đảo chánh đã thất bại vì không được quân đội Liên Xô ủng hộ. Tới cuối tháng 8/91, hầu hết các nước cộng hòa trong Liên Bang Xô Viết đều tuyên bố độc lập, trong đó có cả Byelorussia và Ukraine. Ngày 21/12/1991, Liên Bang Xô Viết được thay thế bằng một liên minh dân chủ lỏng lẻo, không có một quyền lực trung ương từ đằng sau, và ông Mikhail S. Gorbachev tuyên bố từ chức vào ngày 25/12/1991.      
Đế Quốc Cộng Sản Liên Xô đã sụp đổ kể từ ngày 25/12/1991, bởi vì xã hội cộng sản này càng trở nên bệnh hoạn hơn: hệ thống kinh tế không hoạt động hữu hiệu, không thể cung cấp cho người dân các nhu cầu tối thiểu, môi trường sống đã bị lạm dụng, phá hoại, với không khí bị nhiễm độc vì các nhà máy cổ lỗ, các giòng sông bị ô nhiễm trầm trọng vì các chất thải, rừng cây bị chặt bỏ một cách bừa bãi trong khi đó, hệ thống chính trị cũng gặp các bế tắc bởi vì các người ủng hộ hăng say lúc ban đầu đã tan biến dần.      
Trước các cảnh tham nhũng lan tràn, các bất công xã hội chồng chất, rồi cũng do chính quyền Cộng Sản dùng “công an” và “mật vụ” theo dõi và kiểm soát thật chặt chẽ người dân, thường đàn áp một cách tàn bạo các ý tưởng mới, các cải tiến… mọi người dân trong xứ cộng sản cảm thấy “tuyệt vọng”, họ phó mặc cho số mệnh và chờ đợi. Hàng ngàn người trẻ có tài tìm cách liều mạng, bỏ xứ ra đi!      
Nhiều người quá ngạc nhiên và đặt câu hỏi tại sao Đế Quốc Cộng Sản Liên Xô đã sụp đổ một cách nhanh chóng như vậy, nhưng thực ra, các người hiểu biết phải thắc mắc rằng, tại sao một chế độ “phản dân, hại nước” như chế độ Cộng Sản Liên Xô lại có thể tồn tại quá lâu, tới 74 năm mới sụp đổ?         

Phạm Tân An