Sunday, February 27, 2011
Chương trình phát thanh VNCH với đại diện hiện tại là Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chức
http://baotoquoctv.blogspot.com/2011/02/chuong-trinh-phat-thanh-vnch-voi-ai.html
Tuesday, February 22, 2011
Trung Quốc cấm dịch vụ Twitter-Like To Stop The Spread Jasmine Revolution của Dân chủ
Theo sau cuộc biểu tình lớn ủng hộ dân chủ tại Trung Đông, Trung Quốc đang xem xét việc đàn áp nhiều hơn cho các "microblogs" và các dịch vụ Internet khác.
Vào ngày 12 , Trung Quốc của Bộ Chính trị đã tổ chức một cuộc họp khẩn cấp để "quyết định chiến thuật để đối phó với làn sóng dân chủ ở Trung Đông."
Trong số các chiến thuật thảo luận là tăng cường kiểm soát hơn "microblogs," diễn đàn thảo luận, và Internet công cụ truyền thông khác.
Cụ thể, Bộ Chính trị kết luận rằng "những nỗ lực để chỉ trích và kiểm soát microblogs phải được tăng mạnh, và các biện pháp cần được thực hiện trước để chuẩn bị cho khả năng là một phần của Internet sẽ bị đóng cửa."
Dưới đây là một đoạn trích của các ghi chú cuộc họp không chính thức Trung Quốc được đăng trên trang web tin tức Boxun và in lại trong NYOB :
Các chương trình nghị sự cho cuộc họp là "để điều chỉnh chính sách đối ngoại" và mục đích chính là để quyết định chiến thuật để chống lại làn sóng dân chủ ở Trung Đông. Hội nghị đề ra mục tiêu sửa đổi cho cảnh sát và quân đội, nhưng nhấn mạnh ở đây là tuyên truyền. Hội nghị kêu gọi các Bộ và các cơ quan tuyên truyền của công ty con để làm như sau:
-Ngăn chặn tất cả các báo cáo độc lập, bình luận, và thảo luận (bao gồm cả chủ đề Internet), dù trên báo hoặc Internet, về tình hình ở Ai Cập và những nơi tương tự;
-Tăng cường làm việc trong lọc và quản lý blog, microblogs, và diễn đàn thảo luận;
-Đảm bảo rằng phương tiện truyền thông trong tất cả các địa điểm thống nhất tuân thủ các văn bản tiêu chuẩn của Thông tấn xã Trung Quốc mới trong bất kỳ báo cáo hoặc lời bình luận về Trung Đông.
Các chương trình nghị sự cho cuộc họp là "để điều chỉnh chính sách đối ngoại" và mục đích chính là để quyết định chiến thuật để chống lại làn sóng dân chủ ở Trung Đông. Hội nghị đề ra mục tiêu sửa đổi cho cảnh sát và quân đội, nhưng nhấn mạnh ở đây là tuyên truyền. Hội nghị kêu gọi các Bộ và các cơ quan tuyên truyền của công ty con để làm như sau:
Cuộc họp quyết định, cũng như, rằng tất cả các tờ báo lớn thuộc Sở phải tăng cường tuyên truyền hướng dẫn của họ về ý kiến công chúng và căng thẳng với chủ đề mà cuộc khủng hoảng hiện thời "là âm mưu của Hoa Kỳ phía sau hậu trường." Đồng thời, những nỗ lực để chỉ trích và microblogs kiểm soát phải được tăng mạnh, và các biện pháp cần được thực hiện trước để chuẩn bị cho khả năng là một phần của Internet sẽ bị đóng cửa. Sau cuộc họp, Trưởng tuyên truyền trên khắp đất nước đã được đưa ra một chỉ dẫn bổ sung để "giảm báo cáo về bất kỳ sự việc nhạy cảm có thể xảy ra ở miền địa phương của bạn."
Điều gì đã được rằng Malcolm Gladwell đã được chỉ là nói về cuộc cách mạng sẽ không được tweet? Trong bất kỳ sự kiện, không phải tin tốt lành cho một số các cổ phiếu Internet Trung Quốc.
Sunday, February 13, 2011
Lính Việt Nam sẽ theo gương Ai Cập hay Trung Quốc? (VOA)
Những biến động ở Ai Cập hồi gần đây đã khiến nhiều người, đặc biệt là những người quan tâm tới triển vọng phát triển dân chủ ở Việt Nam, nêu lên câu hỏi “Khi nào Việt Nam sẽ có một phong trào xuống đường đòi dân chủ như vậy?” Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng là "Trong trường hợp xảy ra một cuộc biểu tình như cuộc biểu tình ở Cairo, liệu những người lính Việt Nam sẽ theo gương binh lính Ai Cập để không nổ súng vào người biểu tình hay họ sẽ bước theo vết xe đổ của quân đội Trung Quốc năm 1989 để dùng xe tăng súng máy bắn giết thường dân vô tội?" Mời quí vị theo dõi ý kiến của một số các nhà tranh đấu cho dân chủ Việt Nam về vấn đề này trong tiết mục Nhìn Về Á Châu do Duy Ái phụ trách.
Phỏng vấn TS Nguyễn Thanh Giang, Nhà văn Trần Trung Đạo, GS Đoàn Viết Hoạt, BS Nguyễn Đan Quế…
Những biến động ở Ai Cập hồi gần đây đã khiến nhiều người, đặc biệt là những người quan tâm tới triển vọng phát triển dân chủ ở Việt Nam, nêu lên câu hỏi “Khi nào Việt Nam sẽ có một phong trào xuống đường đòi dân chủ như vậy?” Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng là “Trong trường hợp xảy ra một cuộc biểu tình như cuộc biểu tình ở Cairo, liệu những người lính Việt Nam sẽ theo gương binh lính Ai Cập để không nổ súng vào người biểu tình hay họ sẽ bước theo vết xe đổ của quân đội Trung Quốc năm 1989 để dùng xe tăng súng máy bắn giết thường dân vô tội?” Mời quí vị theo dõi ý kiến của một số các nhà tranh đấu cho dân chủ Việt Nam về vấn đề này trong tiết mục Nhìn Về Á Châu do Duy Ái phụ trách.
VOA: Khả năng xảy ra một cuộc nổi dậy qui mô lớn, hòa bình để đòi cải cách chính trị ở VN?
Nguyễn Thanh Giang (Hà Nội): Dưới chế độ độc tài nói chung hay dưới một chế độ chuyên chế, công an trị, dự đoán khả năng và thời điểm mà nhân dân có thể vùng dậy là việc làm khó. Ngay trước ngày 9 tháng 11 năm 1989 không chỉ người ở các châu lục khác mà chính người Đức cũng không ngờ đêm đó bức tường Berlin sụp đổ; khi tổng bí thư đảng cộng sản Rumani lên đoạn đầu đài, ai có thể tưởng tượng nổi mới trước đó ít ngày bài diễn văn của ông ta trong đại hội đảng còn được vỗ tay đến hàng trăm lần.
Ở Việt Nam cách đây mươi năm nhân dân Thái Bình đã từng vùng dậy; cách đây một vài năm hết Thái Hà lại Tam Tòa và giáo xứ Vinh, rồi hàng vạn đồng bào Bắc Giang từng kéo đến xô đổ cổng công đường tỉnh… nhưng rồi đại hội XI Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn được tuyên bố là thành công rực rỡ.
Khả năng sắp hay chưa thể xẩy ra một cuộc nổi dậy quy mô lớn ở Việt Nam đều lớn như nhau. Xin nói rõ: Không phải đều như nhau, mà là đều lớn như nhau.
Duy yêu cầu đòi cải cách chính trị thì đã có và hiện đang trở nên hết sức bức thiết. Điều này không chỉ biểu hiện ở những người nông dân bị bọn tư bản đỏ câu kết với chính quyền cướp đất cướp ruộng, không chỉ biểu hiện ở những công nhân bị bóc lột làm cho cuộc sống bần cùng, cơ cực hơn công nhân ở các nước tư bản mà biểu hiện quyết liệt ngay trong giới elit của Đảng qua cuộc Hội thảo khoa học phê phán cương lĩnh Đảng do giáo sư Trần Phương, nguyên phó thủ tướng chủ trì, và đặc biệt là qua ý kiến phát biểu của nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An.
Cho nên, nổi dậy quy mô lớn trên đường phố thì chưa biết lúc nào xẩy ra nhưng nổi dậy trong lòng người thì đã ở tầm quy mô lớn.
Nguyễn Đan Quế (Sài Gòn): Từ tháng 1-2011 cho đến nay, làn sóng biểu tình đòi Dân Chủ dồn dập nổ ra ở một loạt các xứ Ả Rập như Tunisia, Algeria, Yemen, Sudan… và đặc biệt là Ai Cập, đang thôi thúc mạnh người dân Việt đứng lên đòi Nhân Quyền và Dân Chủ.
Và khả năng nổi dậy hòa bình có qui mô lớn trên toàn quốc để buộc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam phải tôn trọng Nhân Quyền và thực thi Dân Chủ là rất cao. Giới trẻ Việt Nam đang bảo nhau cách sử dụng điện thoại di động, email, Internet, Facebook, Twitter… để liên lạc, huy động, tổ chức, vào thời điểm thích hợp, đông đảo quần chúng xuống đường với khí thế để đòi Dân Chủ Hóa đất nước, giống như ở Ai Cập.
Điều đặc biệt đang diễn ra ở Ai Cập hiện nay là gì? Nếu không phải lần đầu tiên các siêu cường không khai thác các phe phái, xúi dục đối đầu nhau. Đa số đều đứng về phía Sức Mạnh Quần Chúng, kêu gọi chính quyền không đàn áp dân, và nhất là biểu đồng tình với thái độ trung lập của quân đội. Trung cộng không muốn xáo trộn trong nước mình, nhưng cũng không chống đối chuyển đổi Dân Chủ trong các nước Ả rập.
Theo tôi, một khi tổng nổi dậy nổ ra ở Việt Nam, Bắc Kinh vì quyền lợi hợp tác đa phương với các siêu cường khác sẽ: không những không thực tâm giúp Hà Nội, mà còn lũng đoạn thêm, làm suy yếu Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đến tình trạng bất lực phải nhượng bộ trước Sức Mạnh Quần Chúng đang dâng cao đòi quyền sống và Dân Chủ.
Đoàn Viết Hoạt (Virginia): Rất nhiều điều không thể tiên liệu trước được, ngay như ở Tunisie, Ai cập vừa qua. Tuy nhiên theo tôi, một cuộc nổi dậy qui mô lớn tại Việt Nam chỉ có thể xẩy ra khi có những điều kiện sau đây:
(1) Kinh tế suy thoái nghiêm trọng, vật giá gia tăng không kiểm soát được, đời sống dân chúng khó khăn, chính quyền gần như bất lực.
(2) Tỷ lệ thanh niên “nhàn rỗi” tại các thành phố lớn ngày càng cao: không có hoặc rất ít việc làm, dù hình thức nào, và cũng không vào được các trường đại học.
(3) Các nhóm chống đối hoạt động hữu hiệu, có tổ chức và phối hợp tốt, có phương tiện và kỹ thuật cao, vượt qua được an ninh, tận dụng được hệ thống thông tin điện tử, đưa ra các khẩu hiệu đáp ứng nguyện vọng quần chúng.
(4) Thành phần cấp tiến trong đảng Cộng Sản cân bằng và vượt trội về ảnh hưởng và lực lượng với thành phần bảo thủ.
Điều kiện 1 và 2 là mấu chốt, cho đến nay chưa có, hoặc chưa đủ, và do đó cần được theo dõi sát. Khi có 1 hoặc cả 2 tình trạng này thì chỉ cần một biến cố nhỏ cũng có thể tạo bùng nổ. Cho đến nay đã có nhiều nơi có biến động, nhưng không tạo bùng nổ chính trị qui mô rộng lớn vì chưa có điều kiện 1 và 2.
Theo tôi, trừ khi có những yêu tố bất ngờ khác, biến chuyển chính trị tại Việt Nam đi theo một lộ trình khác với Tunisie, Ai Cập. Ở những nước này không có một đảng cầm quyền như đảng Cộng Sản. Tôi cho rằng cuộc cách mạng mầu Việt Nam sẽ là một hợp thể của ít nhất 3 nhân tố: (1) đại đa số quần chúng bất mãn dù thầm lặng (hiện đã có); (2) phe chống đối ngày càng mạnh lên, hoạt động tích cực, bền bỉ (dù bị đàn áp), hữu hiệu, dưới mọi hình thức, chính trị và phi chính trị (hiện chưa đủ); và (3) thành phần và quan điểm cấp tiến trong ban lãnh đạo đảng Cộng Sản ngày càng thắng thế (hiện chưa đủ).
Đây là chưa kể đến các yếu tố bên ngoài tác động vào như kế hoạch bành trướng của Trung quốc, thay đổi tài trợ của quốc tế cho Việt Nam (vì không còn là nước nghèo), Hoa Kỳ gia tăng hoạt động tại vùng Đông Nam Á, người Việt hải ngoại tác động hữu hiệu hơn vào trong nước… Ba nhân tố chính đều cần thiết và tương quan với nhau trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam, một tiến trình không thể đảo ngược. Câu hỏi hiện nay không còn là dân chủ hay không mà là dân chủ như thế nào và bao giờ. Tất cả 3 biến số trên đều luôn luôn “động” nên các bên liên quan cần theo dõi sát để có thái độ và hành động thích ứng và kịp thời.
Trần Trung Đạo (Boston): Việt Nam hội đủ các điều kiện khách quan dẫn đến cuộc cách mạng dân chủ. Sau 36 năm trong chế độ độc tài toàn trị, những bất mãn chồng chất mỗi ngày một cao trong ý thức của mọi tầng lớp nhân dân. Tình trạng tham nhũng ngày càng tinh vi, lan rộng khỏi biên giới quốc gia làm nhục lây cho cả dân tộc. Lãnh thổ, lãnh hải bị chiếm đoạt và đe dọa.
Chính sách đổi mới của đảng trong những năm qua chỉ để ngăn cho ly nước khỏi tràn hơn là các canh tân căn bản mang lại lợi ích lâu dài cho đất nước. Sở dĩ đến hôm nay cách mạng chưa bùng nổ bởi vì các lý do chủ quan. Các phong trào dân chủ cần đặt đúng mục tiêu đấu tranh trong nhu cầu của đại đa số nhân dân, cần phối hợp nhịp nhàng hơn, trong và ngoài nước, để tạo nên một sức mạnh dân tộc tổng hợp.
Thực tế tại Tunisia và Egypt cho thấy người dân xuống đường không phải để biện minh hay phản đối các lý thuyết xa vời mà đơn giản chỉ vì các quyền lợi bản thân và gia đình họ bị xâm phạm quá mức chịu đựng. Dân chủ bắt đầu từ ổ bánh mì và tự do bắt đầu từ quyền được nói. Hosni Mubarak là một tổng thống tham quyền cố vị nhưng chưa hẳn tàn ác như đồ tể Joseph Mobutu hay Mengistu Haile Mariam. Tuy nhiên, dân Egypt vẫn xuống đường ồ ạt chỉ vì tình trạng thất nghiệp gần 10%, tham nhũng có hệ thống trong chính phủ và chênh lệch giàu nghèo sâu sắc.
Xã hội Việt Nam băng hoại hơn Egypt nhiều bởi vì tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng. Tóm lại, cách mạng dân chủ tại Việt Nam là một biến cố không tránh khỏi nhưng nhanh hay chậm tùy sự tác động từ các yếu tố chủ quan như đã trình bày.
VOA: Nếu xảy ra một sự việc như vậy, quân đội VN sẽ theo gương Trung Quốc để đàn áp như vụ Thiên an môn 1989, hay họ sẽ làm như quân đội Ai Cập hiện nay?
Nguyễn Thanh Giang: Mặc dù những người lãnh đạo trâng tráo đến mức bác bỏ cả khẩu lệnh của Hồ chủ tịch “Quân đội ta trung với nước, hiếu với dân” để nhồi sọ khẩu lệnh “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân” nhưng tin chắc rằng quân đội nhân dân Việt Nam dứt khoát sẽ không tàn sát đồng bào mình như Thiên An Môn. Ngay đối với Trung Quốc, ngày nay, tin rằng những người lãnh đạo cộng sản kia cũng không thể nào xua quân đội đi làm một Thiên An Môn thứ hai.
Tôi vững tin vào những người lính Việt Nam ngày nay bởi biết rằng không phải họ chỉ đã nhìn thấy những tấm gương ở Thái Lan, ở Tunisie, ở Ai Cập… mà gương xấu của những người lãnh đạo nói một đường, làm một nẻo và lạm dụng quyền hành để tham những, để bóc lột… làm cho họ không dại gì lấy máu đồng bào mình mà dâng hiến cho những “lý tưởng” lăng nhăng, lường gạt.
Nguyễn Đan Quế: Nhiều khả năng ở Việt Nam quân đội cũng sẽ đứng trung lập, theo gương của quân đội Ai Cập.
Cách xử sự của quân đội Ai Cập, không những không đàn áp mà còn ủng hộ đòi hỏi Dân Chủ của người dân, chắc chắn lúc có biến sẽ làm giới quân nhân Việt Nam suy nghĩ rất nhiều khi ra tay đàn áp: Đứng về phía đồng bào để được trọng thị, yêu quí; hay mù quáng tuân lệnh Bộ Chính Trị ĐCSVN bắn vào đám đông biểu tình, trong đó có bố mẹ anh chị em mình, để rồi bị mọi người phỉ nhổ. Lúc đó ai chịu? Lúc đó ai thương?
Ngoài ra, hai siêu cường Mỹ – Trung, có ảnh hưởng khá lớn trong hàng ngũ tướng lãnh Hà Nội, có thể thủ giữ vai trò quan trọng trong việc khuyến khích quân đội có thái độ trung lập.
Cuối cùng, tôi muốn nói thêm là:
Trên chính trường thế giới ngày nay, năm trung tâm quyền lực kinh tế đang lộ diện. Đó là: Mỹ, Nhật, Đức với Cộng đồng Âu Châu EU, Nga & Trung Cộng (năm thủ đô đều nằm về Bắc bán cầu).
Năm siêu cường đang đi vào thế hợp tác trong Chiến Lược Toàn Cầu Đa Phương Mới để:
- một mặt, giữ vững thế của nước giầu đối với nước nghèo, loại trừ khủng bố, giữ vững an ninh thế giới cùng phát triển;
- mặt khác, chuyển giao kỹ-nghệ-hoá cho các nước nghèo (đa số ở Nam bán cầu) nhằm lấp bớt hố xa cách giầu – nghèo, với mẫu số chung là “phát triển và Dân Chủ phải song hành”.
Nói cách khác, thế giới đang đi vào Hợp Tác Bắc – Nam.
Trước tình hình thế giới đã và đang thay đổi lớn như vậy, tôi nghĩ là quân đội và chính phủ Cộng Sản Việt Nam khó lòng thẳng tay đàn áp người dân như Trung Cộng đã làm ở Thiên an môn năm 1989.
Đoàn Viết Hoạt: Quân đội ở Ai cập không đảo chánh nhưng cũng không đàn áp người biểu tình. Muốn xẩy ra như vậy ở Việt Nam, thành phần cấp tiến trong đảng CS phải mạnh hơn thành phần bảo thủ thân Trung Quốc và ảnh hưởng được quân đội. “Tự diễn biến” trong đảng Cộng Sản không đủ để đem đến dân chủ, nhưng khi có nổi dậy qui mô lớn của quần chúng thì nhờ “tự diễn biến” mà quân đội có thể “trung lập”. Công an thì khó hơn nhưng dễ bị quân đội vô hiệu hóa. Hiện có hai yếu tố đang cản trở diễn tiến này:
(1) nhiều cơ quan và lãnh đạo quân đội được chia chác quyền lợi kinh tế thương mại; (2) Tổng bí thư đảng là bí thư quân ủy trung ương. Hiểm họa bành trướng Trung Quốc và lòng yêu nước cần được đề cao để chuẩn bị cho việc vận động quân đội khi có biến động.
Trần Trung Đạo: Tôi không nghĩ giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam dám ra lịnh cho quân đội tàn sát nhân dân như Đặng Tiểu Bình đã làm và dù có được lịnh, quân đội cũng sẽ không tuân theo chỉ thị của lãnh đạo đảng.
Các lãnh đạo đảng không dám vì họ biết trời đất rộng bao la nhưng khó tìm đâu ra một chỗ dung thân. Không giống như số phận Amin Dada của Uganda, Siad Barre của Somalia sau khi bị lật đổ đã được các độc tài khác bao che cho đến cuối đời, trong thời đại toàn cầu hóa, bang giao quốc tế được mở rộng và các công pháp quốc tế đã được tôn trọng, số phận các nhà độc tài cũng khác. Sự kiện Charles Taylor của Liberia đang bị giam giữ tại The Hague và al-Bashir của Sudan vừa bị tòa án quốc tế truy tố dù đang là tổng thống là những bài học sống mà họ phải thuộc.
Về phía quân đội, những người lính tại Việt Nam ngày nay không phải là những người xích chân vào nòng đại pháo như trước 1975 nhưng đã có ý thức dân tộc, đã quá đắng cay khi nghe đi nghe lại khẩu hiệu rỗng “độc lập, tự do, hạnh phúc”, và đã hiểu những xương máu mà các thế hệ đàn anh đổ xuống ở miền Nam chỉ làm giàu cho một thiểu số lãnh đạo đêm nệm ấm chăn êm trong các biệt thự nguy nga, ngày sống dư thừa trong các nhà hàng sang trọng.
Phục vụ trong guồng máy, người lính phải quay theo guồng máy nhưng nếu có cơ hội đứng về phía dân tộc họ sẽ đứng về phía dân tộc. Cách mạng dân chủ tại Việt Nam nay mai chẳng những sẽ không có tiếng súng, không có giết chóc, không có cốt nhục tương tàn mà còn diễn ra rất nhanh chóng, bởi vì đại đa số người Việt đang bùng cháy trong lòng một ao ước giống nhau là mong được thấy quê hương hồi sinh và thăng tiến.
Phỏng vấn TS Nguyễn Thanh Giang, Nhà văn Trần Trung Đạo, GS Đoàn Viết Hoạt, BS Nguyễn Đan Quế…
Những biến động ở Ai Cập hồi gần đây đã khiến nhiều người, đặc biệt là những người quan tâm tới triển vọng phát triển dân chủ ở Việt Nam, nêu lên câu hỏi “Khi nào Việt Nam sẽ có một phong trào xuống đường đòi dân chủ như vậy?” Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng là “Trong trường hợp xảy ra một cuộc biểu tình như cuộc biểu tình ở Cairo, liệu những người lính Việt Nam sẽ theo gương binh lính Ai Cập để không nổ súng vào người biểu tình hay họ sẽ bước theo vết xe đổ của quân đội Trung Quốc năm 1989 để dùng xe tăng súng máy bắn giết thường dân vô tội?” Mời quí vị theo dõi ý kiến của một số các nhà tranh đấu cho dân chủ Việt Nam về vấn đề này trong tiết mục Nhìn Về Á Châu do Duy Ái phụ trách.
VOA: Khả năng xảy ra một cuộc nổi dậy qui mô lớn, hòa bình để đòi cải cách chính trị ở VN?
Nguyễn Thanh Giang (Hà Nội): Dưới chế độ độc tài nói chung hay dưới một chế độ chuyên chế, công an trị, dự đoán khả năng và thời điểm mà nhân dân có thể vùng dậy là việc làm khó. Ngay trước ngày 9 tháng 11 năm 1989 không chỉ người ở các châu lục khác mà chính người Đức cũng không ngờ đêm đó bức tường Berlin sụp đổ; khi tổng bí thư đảng cộng sản Rumani lên đoạn đầu đài, ai có thể tưởng tượng nổi mới trước đó ít ngày bài diễn văn của ông ta trong đại hội đảng còn được vỗ tay đến hàng trăm lần.
Ở Việt Nam cách đây mươi năm nhân dân Thái Bình đã từng vùng dậy; cách đây một vài năm hết Thái Hà lại Tam Tòa và giáo xứ Vinh, rồi hàng vạn đồng bào Bắc Giang từng kéo đến xô đổ cổng công đường tỉnh… nhưng rồi đại hội XI Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn được tuyên bố là thành công rực rỡ.
Khả năng sắp hay chưa thể xẩy ra một cuộc nổi dậy quy mô lớn ở Việt Nam đều lớn như nhau. Xin nói rõ: Không phải đều như nhau, mà là đều lớn như nhau.
Duy yêu cầu đòi cải cách chính trị thì đã có và hiện đang trở nên hết sức bức thiết. Điều này không chỉ biểu hiện ở những người nông dân bị bọn tư bản đỏ câu kết với chính quyền cướp đất cướp ruộng, không chỉ biểu hiện ở những công nhân bị bóc lột làm cho cuộc sống bần cùng, cơ cực hơn công nhân ở các nước tư bản mà biểu hiện quyết liệt ngay trong giới elit của Đảng qua cuộc Hội thảo khoa học phê phán cương lĩnh Đảng do giáo sư Trần Phương, nguyên phó thủ tướng chủ trì, và đặc biệt là qua ý kiến phát biểu của nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An.
Cho nên, nổi dậy quy mô lớn trên đường phố thì chưa biết lúc nào xẩy ra nhưng nổi dậy trong lòng người thì đã ở tầm quy mô lớn.
Nguyễn Đan Quế (Sài Gòn): Từ tháng 1-2011 cho đến nay, làn sóng biểu tình đòi Dân Chủ dồn dập nổ ra ở một loạt các xứ Ả Rập như Tunisia, Algeria, Yemen, Sudan… và đặc biệt là Ai Cập, đang thôi thúc mạnh người dân Việt đứng lên đòi Nhân Quyền và Dân Chủ.
Và khả năng nổi dậy hòa bình có qui mô lớn trên toàn quốc để buộc Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam phải tôn trọng Nhân Quyền và thực thi Dân Chủ là rất cao. Giới trẻ Việt Nam đang bảo nhau cách sử dụng điện thoại di động, email, Internet, Facebook, Twitter… để liên lạc, huy động, tổ chức, vào thời điểm thích hợp, đông đảo quần chúng xuống đường với khí thế để đòi Dân Chủ Hóa đất nước, giống như ở Ai Cập.
Điều đặc biệt đang diễn ra ở Ai Cập hiện nay là gì? Nếu không phải lần đầu tiên các siêu cường không khai thác các phe phái, xúi dục đối đầu nhau. Đa số đều đứng về phía Sức Mạnh Quần Chúng, kêu gọi chính quyền không đàn áp dân, và nhất là biểu đồng tình với thái độ trung lập của quân đội. Trung cộng không muốn xáo trộn trong nước mình, nhưng cũng không chống đối chuyển đổi Dân Chủ trong các nước Ả rập.
Theo tôi, một khi tổng nổi dậy nổ ra ở Việt Nam, Bắc Kinh vì quyền lợi hợp tác đa phương với các siêu cường khác sẽ: không những không thực tâm giúp Hà Nội, mà còn lũng đoạn thêm, làm suy yếu Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đến tình trạng bất lực phải nhượng bộ trước Sức Mạnh Quần Chúng đang dâng cao đòi quyền sống và Dân Chủ.
Đoàn Viết Hoạt (Virginia): Rất nhiều điều không thể tiên liệu trước được, ngay như ở Tunisie, Ai cập vừa qua. Tuy nhiên theo tôi, một cuộc nổi dậy qui mô lớn tại Việt Nam chỉ có thể xẩy ra khi có những điều kiện sau đây:
(1) Kinh tế suy thoái nghiêm trọng, vật giá gia tăng không kiểm soát được, đời sống dân chúng khó khăn, chính quyền gần như bất lực.
(2) Tỷ lệ thanh niên “nhàn rỗi” tại các thành phố lớn ngày càng cao: không có hoặc rất ít việc làm, dù hình thức nào, và cũng không vào được các trường đại học.
(3) Các nhóm chống đối hoạt động hữu hiệu, có tổ chức và phối hợp tốt, có phương tiện và kỹ thuật cao, vượt qua được an ninh, tận dụng được hệ thống thông tin điện tử, đưa ra các khẩu hiệu đáp ứng nguyện vọng quần chúng.
(4) Thành phần cấp tiến trong đảng Cộng Sản cân bằng và vượt trội về ảnh hưởng và lực lượng với thành phần bảo thủ.
Điều kiện 1 và 2 là mấu chốt, cho đến nay chưa có, hoặc chưa đủ, và do đó cần được theo dõi sát. Khi có 1 hoặc cả 2 tình trạng này thì chỉ cần một biến cố nhỏ cũng có thể tạo bùng nổ. Cho đến nay đã có nhiều nơi có biến động, nhưng không tạo bùng nổ chính trị qui mô rộng lớn vì chưa có điều kiện 1 và 2.
Theo tôi, trừ khi có những yêu tố bất ngờ khác, biến chuyển chính trị tại Việt Nam đi theo một lộ trình khác với Tunisie, Ai Cập. Ở những nước này không có một đảng cầm quyền như đảng Cộng Sản. Tôi cho rằng cuộc cách mạng mầu Việt Nam sẽ là một hợp thể của ít nhất 3 nhân tố: (1) đại đa số quần chúng bất mãn dù thầm lặng (hiện đã có); (2) phe chống đối ngày càng mạnh lên, hoạt động tích cực, bền bỉ (dù bị đàn áp), hữu hiệu, dưới mọi hình thức, chính trị và phi chính trị (hiện chưa đủ); và (3) thành phần và quan điểm cấp tiến trong ban lãnh đạo đảng Cộng Sản ngày càng thắng thế (hiện chưa đủ).
Đây là chưa kể đến các yếu tố bên ngoài tác động vào như kế hoạch bành trướng của Trung quốc, thay đổi tài trợ của quốc tế cho Việt Nam (vì không còn là nước nghèo), Hoa Kỳ gia tăng hoạt động tại vùng Đông Nam Á, người Việt hải ngoại tác động hữu hiệu hơn vào trong nước… Ba nhân tố chính đều cần thiết và tương quan với nhau trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam, một tiến trình không thể đảo ngược. Câu hỏi hiện nay không còn là dân chủ hay không mà là dân chủ như thế nào và bao giờ. Tất cả 3 biến số trên đều luôn luôn “động” nên các bên liên quan cần theo dõi sát để có thái độ và hành động thích ứng và kịp thời.
Trần Trung Đạo (Boston): Việt Nam hội đủ các điều kiện khách quan dẫn đến cuộc cách mạng dân chủ. Sau 36 năm trong chế độ độc tài toàn trị, những bất mãn chồng chất mỗi ngày một cao trong ý thức của mọi tầng lớp nhân dân. Tình trạng tham nhũng ngày càng tinh vi, lan rộng khỏi biên giới quốc gia làm nhục lây cho cả dân tộc. Lãnh thổ, lãnh hải bị chiếm đoạt và đe dọa.
Chính sách đổi mới của đảng trong những năm qua chỉ để ngăn cho ly nước khỏi tràn hơn là các canh tân căn bản mang lại lợi ích lâu dài cho đất nước. Sở dĩ đến hôm nay cách mạng chưa bùng nổ bởi vì các lý do chủ quan. Các phong trào dân chủ cần đặt đúng mục tiêu đấu tranh trong nhu cầu của đại đa số nhân dân, cần phối hợp nhịp nhàng hơn, trong và ngoài nước, để tạo nên một sức mạnh dân tộc tổng hợp.
Thực tế tại Tunisia và Egypt cho thấy người dân xuống đường không phải để biện minh hay phản đối các lý thuyết xa vời mà đơn giản chỉ vì các quyền lợi bản thân và gia đình họ bị xâm phạm quá mức chịu đựng. Dân chủ bắt đầu từ ổ bánh mì và tự do bắt đầu từ quyền được nói. Hosni Mubarak là một tổng thống tham quyền cố vị nhưng chưa hẳn tàn ác như đồ tể Joseph Mobutu hay Mengistu Haile Mariam. Tuy nhiên, dân Egypt vẫn xuống đường ồ ạt chỉ vì tình trạng thất nghiệp gần 10%, tham nhũng có hệ thống trong chính phủ và chênh lệch giàu nghèo sâu sắc.
Xã hội Việt Nam băng hoại hơn Egypt nhiều bởi vì tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng. Tóm lại, cách mạng dân chủ tại Việt Nam là một biến cố không tránh khỏi nhưng nhanh hay chậm tùy sự tác động từ các yếu tố chủ quan như đã trình bày.
VOA: Nếu xảy ra một sự việc như vậy, quân đội VN sẽ theo gương Trung Quốc để đàn áp như vụ Thiên an môn 1989, hay họ sẽ làm như quân đội Ai Cập hiện nay?
Nguyễn Thanh Giang: Mặc dù những người lãnh đạo trâng tráo đến mức bác bỏ cả khẩu lệnh của Hồ chủ tịch “Quân đội ta trung với nước, hiếu với dân” để nhồi sọ khẩu lệnh “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân” nhưng tin chắc rằng quân đội nhân dân Việt Nam dứt khoát sẽ không tàn sát đồng bào mình như Thiên An Môn. Ngay đối với Trung Quốc, ngày nay, tin rằng những người lãnh đạo cộng sản kia cũng không thể nào xua quân đội đi làm một Thiên An Môn thứ hai.
Tôi vững tin vào những người lính Việt Nam ngày nay bởi biết rằng không phải họ chỉ đã nhìn thấy những tấm gương ở Thái Lan, ở Tunisie, ở Ai Cập… mà gương xấu của những người lãnh đạo nói một đường, làm một nẻo và lạm dụng quyền hành để tham những, để bóc lột… làm cho họ không dại gì lấy máu đồng bào mình mà dâng hiến cho những “lý tưởng” lăng nhăng, lường gạt.
Nguyễn Đan Quế: Nhiều khả năng ở Việt Nam quân đội cũng sẽ đứng trung lập, theo gương của quân đội Ai Cập.
Cách xử sự của quân đội Ai Cập, không những không đàn áp mà còn ủng hộ đòi hỏi Dân Chủ của người dân, chắc chắn lúc có biến sẽ làm giới quân nhân Việt Nam suy nghĩ rất nhiều khi ra tay đàn áp: Đứng về phía đồng bào để được trọng thị, yêu quí; hay mù quáng tuân lệnh Bộ Chính Trị ĐCSVN bắn vào đám đông biểu tình, trong đó có bố mẹ anh chị em mình, để rồi bị mọi người phỉ nhổ. Lúc đó ai chịu? Lúc đó ai thương?
Ngoài ra, hai siêu cường Mỹ – Trung, có ảnh hưởng khá lớn trong hàng ngũ tướng lãnh Hà Nội, có thể thủ giữ vai trò quan trọng trong việc khuyến khích quân đội có thái độ trung lập.
Cuối cùng, tôi muốn nói thêm là:
Trên chính trường thế giới ngày nay, năm trung tâm quyền lực kinh tế đang lộ diện. Đó là: Mỹ, Nhật, Đức với Cộng đồng Âu Châu EU, Nga & Trung Cộng (năm thủ đô đều nằm về Bắc bán cầu).
Năm siêu cường đang đi vào thế hợp tác trong Chiến Lược Toàn Cầu Đa Phương Mới để:
- một mặt, giữ vững thế của nước giầu đối với nước nghèo, loại trừ khủng bố, giữ vững an ninh thế giới cùng phát triển;
- mặt khác, chuyển giao kỹ-nghệ-hoá cho các nước nghèo (đa số ở Nam bán cầu) nhằm lấp bớt hố xa cách giầu – nghèo, với mẫu số chung là “phát triển và Dân Chủ phải song hành”.
Nói cách khác, thế giới đang đi vào Hợp Tác Bắc – Nam.
Trước tình hình thế giới đã và đang thay đổi lớn như vậy, tôi nghĩ là quân đội và chính phủ Cộng Sản Việt Nam khó lòng thẳng tay đàn áp người dân như Trung Cộng đã làm ở Thiên an môn năm 1989.
Đoàn Viết Hoạt: Quân đội ở Ai cập không đảo chánh nhưng cũng không đàn áp người biểu tình. Muốn xẩy ra như vậy ở Việt Nam, thành phần cấp tiến trong đảng CS phải mạnh hơn thành phần bảo thủ thân Trung Quốc và ảnh hưởng được quân đội. “Tự diễn biến” trong đảng Cộng Sản không đủ để đem đến dân chủ, nhưng khi có nổi dậy qui mô lớn của quần chúng thì nhờ “tự diễn biến” mà quân đội có thể “trung lập”. Công an thì khó hơn nhưng dễ bị quân đội vô hiệu hóa. Hiện có hai yếu tố đang cản trở diễn tiến này:
(1) nhiều cơ quan và lãnh đạo quân đội được chia chác quyền lợi kinh tế thương mại; (2) Tổng bí thư đảng là bí thư quân ủy trung ương. Hiểm họa bành trướng Trung Quốc và lòng yêu nước cần được đề cao để chuẩn bị cho việc vận động quân đội khi có biến động.
Trần Trung Đạo: Tôi không nghĩ giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam dám ra lịnh cho quân đội tàn sát nhân dân như Đặng Tiểu Bình đã làm và dù có được lịnh, quân đội cũng sẽ không tuân theo chỉ thị của lãnh đạo đảng.
Các lãnh đạo đảng không dám vì họ biết trời đất rộng bao la nhưng khó tìm đâu ra một chỗ dung thân. Không giống như số phận Amin Dada của Uganda, Siad Barre của Somalia sau khi bị lật đổ đã được các độc tài khác bao che cho đến cuối đời, trong thời đại toàn cầu hóa, bang giao quốc tế được mở rộng và các công pháp quốc tế đã được tôn trọng, số phận các nhà độc tài cũng khác. Sự kiện Charles Taylor của Liberia đang bị giam giữ tại The Hague và al-Bashir của Sudan vừa bị tòa án quốc tế truy tố dù đang là tổng thống là những bài học sống mà họ phải thuộc.
Về phía quân đội, những người lính tại Việt Nam ngày nay không phải là những người xích chân vào nòng đại pháo như trước 1975 nhưng đã có ý thức dân tộc, đã quá đắng cay khi nghe đi nghe lại khẩu hiệu rỗng “độc lập, tự do, hạnh phúc”, và đã hiểu những xương máu mà các thế hệ đàn anh đổ xuống ở miền Nam chỉ làm giàu cho một thiểu số lãnh đạo đêm nệm ấm chăn êm trong các biệt thự nguy nga, ngày sống dư thừa trong các nhà hàng sang trọng.
Phục vụ trong guồng máy, người lính phải quay theo guồng máy nhưng nếu có cơ hội đứng về phía dân tộc họ sẽ đứng về phía dân tộc. Cách mạng dân chủ tại Việt Nam nay mai chẳng những sẽ không có tiếng súng, không có giết chóc, không có cốt nhục tương tàn mà còn diễn ra rất nhanh chóng, bởi vì đại đa số người Việt đang bùng cháy trong lòng một ao ước giống nhau là mong được thấy quê hương hồi sinh và thăng tiến.
Ai Cập : khi một dân tộc thức tỉnh, độc tài sẽ sụp đổ
Thanh Phuong (RFI)
Không chỉ cả thế giới, mà ngay chính người dân Ai Cập cũng không ngờ là một ngày nào đó họ có thể lật đổ được Hosni Mubarak, sau ba thập niên sống dưới chế độ độc tài. Trong 18 ngày qua, mặc dù bị chính quyền đàn áp đẫm máu, nhưng phong trào biểu tình vẫn không thuyên giảm, với niềm tin sắt đá là họ sẽ thắng.
Không chỉ cả thế giới, mà ngay chính người dân Ai Cập cũng không ngờ là một ngày nào đó họ có thể lật đổ được Hosni Mubarak, sau ba thập niên sống dưới chế độ độc tài. Trong 18 ngày qua, mặc dù bị chính quyền đàn áp đẫm máu, nhưng phong trào biểu tình vẫn không thuyên giảm, với niềm tin sắt đá là họ sẽ thắng.
Vì sao dân Ai Cập, vốn vẫn ngủ quên như những pho tượng nhân sư, nay đã thức tỉnh như vậy ? Muốn hiểu được điều đó phải trở ngược về tháng 6 vừa qua, với vụ cảnh sát Ai Cập đánh chết một thanh niên 28 tuổi, Khaled Said. Anh này đã bị hai cảnh sát mật vụ câu lưu trong một quán cà phê Internet vì đã phổ biến trên mạng một đoạn băng vidéo tố cáo nạn tham nhũng trong ngành cảnh sát. Vì không chịu trình giấy tờ tùy thân, Khaled Said bị cảnh sát lôi ra ngoài đường đánh đập dã man, đầu bị dập nát.
Được lan tuyền rộng rãi qua mạng xã hội Facebook, thông tin nói trên đã ngay lập tức dấy lên một phong trào biểu tình với sự tham gia của hàng ngàn bạn trẻ, được sự ủng hộ của giới trí thức văn nghệ sĩ, trong cũng như ngoài nước. Các cuộc biểu tình đã nhanh chóng bị dập tắt, nhưng tinh thần phản kháng vẫn âm ỉ cho đến gần đây, trước khi chuyển thành phong trào biểu tình rầm rộ, mà nay có người gọi là "cách mạng Hoa Sen", ( hoa sen là một trong những biểu tượng của Ai Cập cổ ), trong đó Khaled Said đã hình ảnh tiêu biểu.
Thật ra trong quá khứ, dân Ai Cập cũng đã từng xuống đường bốn lần, nhưng vì những lý do khác, chủ yếu là do nghèo đói, nhưng lần này là cuộc cách mạng vì tự do, dân chủ, với ý thức rằng chỉ khi nào người dân nắm vận mệnh đất nước trong tay, cuộc sống của họ mới khá hơn.
Trong 18 ngày qua, mặc dù bị chính quyền đàn áp đẫm máu, với hàng trăm người chết, phong trào biểu tình vẫn không thuyên giảm, thậm chí còn lan rộng từ thủ đô Cairo ra các vùng khác. Mỗi ngày, hàng trăm ngàn người vẫn xuống đường một cách bình thản, nhưng với niềm tin sắt đá là họ sẽ thắng. Không những thế, trong những ngày cuối, phong trào đấu tranh chính trị này còn có sự tiếp sức của các phong trào đấu tranh xã hội của nhiều giới, từ nhân hỏa xa, công nhân dệt may, cho đến bác sĩ.
Trước làn sóng ngày càng lớn mạnh này, tổng thống Bubarak đã lùi từng bước, ban đầu hứa sẽ không tái tranh cử, rồi sau đó loan báo giao quyền cho phó tổng thống Suleiman, nhưng cả triệu người hôm qua vẫn duy trì áp lực tối đa. Có lẽ là cộng thêm sức ép của quân đội, cuối cùng Mubarak đã buộc phải từ bỏ chiếc ghế tổng thống.
Như đã nói ở trên, "cách mạng Hoa Sen" ở Ai Cập đã khởi đầu từ giới trẻ và cũng chính giới trẻ đã là đầu tàu trong suốt cuộc đấu tranh này. Có học thức, chịu ảnh hưởng nhiều từ thế giới bên ngoài, giới trẻ Ai Cập đã biết khai thác các phương tiện công nghệ thông tin như mạng xã hội Facebook làm vũ khí chống chế độ Mubarak. Ngay chính báo chí của chính phủ Ai Cập hôm nay cũng thừa nhận rằng : "Giới trẻ Ai Cập đã buộc Mubarak ra đi", như tựa của tờ báo Al-Ahram.
Một điều đáng chú ý, đây là lần đầu tiên có một cuộc cách mạng quần chúng mang tính ôn hòa ở Ai Cập, mà kể từ khi chế độ quân chủ bị lật đổ vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân đội. Điều mà các nhà quan sát sợ nhất đã không xảy ra, tức là sự nội bùng tại một quốc gia cảnh sát trị, nơi mà người dân ngày càng bất mãn vì thất nghiệp, nghèo đói, bất công, trong khi gia đình Mubarak vơ vét mọi tài sản quốc gia.
Tất nhiên, cách mạng chưa phải là kết thúc ở đây, vì chưa ai biết rõ về thái độ của quân đội Ai Cập, nay đang nắm quyền lãnh đạo thông qua một hội đồng quân sự. Trách nhiệm của quân đội Ai Cập rất lớn lao : vừa bảo đảm ổn định, vừa đáp ứng khát vọng dân chủ của nhân dân. Liệu họ có bảo đảm cho cho tiến trình chuyển tiếp dân chủ diễn ra êm thắm hay không ? Chúng ta hãy chờ xem.
Người dân Ai Cập hôm nay vui mừng vì đã thoát khỏi ách độc tài, nhưng cũng đang lo lắng nhìn về tương lai. Tuy vậy, trước mắt họ có thể tự hào đã làm nên cách mạng tại quốc gia Ả rập đông dân nhất. Sau Tunisie, nay đến Ai Cập, các chế độ độc đoán khác, trong thế giới Ả rập và trên thế giới nói chung, nay đang rung sợ sẽ đến lượt mình.
Được lan tuyền rộng rãi qua mạng xã hội Facebook, thông tin nói trên đã ngay lập tức dấy lên một phong trào biểu tình với sự tham gia của hàng ngàn bạn trẻ, được sự ủng hộ của giới trí thức văn nghệ sĩ, trong cũng như ngoài nước. Các cuộc biểu tình đã nhanh chóng bị dập tắt, nhưng tinh thần phản kháng vẫn âm ỉ cho đến gần đây, trước khi chuyển thành phong trào biểu tình rầm rộ, mà nay có người gọi là "cách mạng Hoa Sen", ( hoa sen là một trong những biểu tượng của Ai Cập cổ ), trong đó Khaled Said đã hình ảnh tiêu biểu.
Thật ra trong quá khứ, dân Ai Cập cũng đã từng xuống đường bốn lần, nhưng vì những lý do khác, chủ yếu là do nghèo đói, nhưng lần này là cuộc cách mạng vì tự do, dân chủ, với ý thức rằng chỉ khi nào người dân nắm vận mệnh đất nước trong tay, cuộc sống của họ mới khá hơn.
Trong 18 ngày qua, mặc dù bị chính quyền đàn áp đẫm máu, với hàng trăm người chết, phong trào biểu tình vẫn không thuyên giảm, thậm chí còn lan rộng từ thủ đô Cairo ra các vùng khác. Mỗi ngày, hàng trăm ngàn người vẫn xuống đường một cách bình thản, nhưng với niềm tin sắt đá là họ sẽ thắng. Không những thế, trong những ngày cuối, phong trào đấu tranh chính trị này còn có sự tiếp sức của các phong trào đấu tranh xã hội của nhiều giới, từ nhân hỏa xa, công nhân dệt may, cho đến bác sĩ.
Trước làn sóng ngày càng lớn mạnh này, tổng thống Bubarak đã lùi từng bước, ban đầu hứa sẽ không tái tranh cử, rồi sau đó loan báo giao quyền cho phó tổng thống Suleiman, nhưng cả triệu người hôm qua vẫn duy trì áp lực tối đa. Có lẽ là cộng thêm sức ép của quân đội, cuối cùng Mubarak đã buộc phải từ bỏ chiếc ghế tổng thống.
Như đã nói ở trên, "cách mạng Hoa Sen" ở Ai Cập đã khởi đầu từ giới trẻ và cũng chính giới trẻ đã là đầu tàu trong suốt cuộc đấu tranh này. Có học thức, chịu ảnh hưởng nhiều từ thế giới bên ngoài, giới trẻ Ai Cập đã biết khai thác các phương tiện công nghệ thông tin như mạng xã hội Facebook làm vũ khí chống chế độ Mubarak. Ngay chính báo chí của chính phủ Ai Cập hôm nay cũng thừa nhận rằng : "Giới trẻ Ai Cập đã buộc Mubarak ra đi", như tựa của tờ báo Al-Ahram.
Một điều đáng chú ý, đây là lần đầu tiên có một cuộc cách mạng quần chúng mang tính ôn hòa ở Ai Cập, mà kể từ khi chế độ quân chủ bị lật đổ vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân đội. Điều mà các nhà quan sát sợ nhất đã không xảy ra, tức là sự nội bùng tại một quốc gia cảnh sát trị, nơi mà người dân ngày càng bất mãn vì thất nghiệp, nghèo đói, bất công, trong khi gia đình Mubarak vơ vét mọi tài sản quốc gia.
Tất nhiên, cách mạng chưa phải là kết thúc ở đây, vì chưa ai biết rõ về thái độ của quân đội Ai Cập, nay đang nắm quyền lãnh đạo thông qua một hội đồng quân sự. Trách nhiệm của quân đội Ai Cập rất lớn lao : vừa bảo đảm ổn định, vừa đáp ứng khát vọng dân chủ của nhân dân. Liệu họ có bảo đảm cho cho tiến trình chuyển tiếp dân chủ diễn ra êm thắm hay không ? Chúng ta hãy chờ xem.
Người dân Ai Cập hôm nay vui mừng vì đã thoát khỏi ách độc tài, nhưng cũng đang lo lắng nhìn về tương lai. Tuy vậy, trước mắt họ có thể tự hào đã làm nên cách mạng tại quốc gia Ả rập đông dân nhất. Sau Tunisie, nay đến Ai Cập, các chế độ độc đoán khác, trong thế giới Ả rập và trên thế giới nói chung, nay đang rung sợ sẽ đến lượt mình.
Friday, February 11, 2011
Cựu chủ tịch quốc hội Việt Cộng bàn về sửa đổi hiến pháp
Cựu Chủ tịch QH : Ba vấn đề cốt lõi khi sửa Hiến pháp
(VietNamNet)
Tác giả: Nguyễn Văn An
Bài đã được xuất bản.: 11/02/2011 06:00 GMT+7
LTS: Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường mới đây khẳng định: đã đến thời điểm chín muồi để sửa đổi Hiến pháp và tư tưởng pháp quyền buộc phải có cách thức viết Hiến pháp khác, không thể "ôm đồm", "dài dòng" như hiện nay. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam lược ghi lại cuộc trò chuyện với nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về việc sửa đổi Hiến pháp 1992 sắp tới.
>> Thời điểm chín muồi sửa Hiến pháp
Dân phải được phúc quyết Hiến pháp
Sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội sinh hoạt chính trị dân chủ sâu rộng trong toàn dân, toàn dân có được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ tham gia ý kiến và phúc quyết hay không?
Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi hy vọng là như vậy.
Nếu nhân dân không được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì chúng ta lại bỏ lỡ mất cơ hội vô cùng quan trọng.
Kinh nghiệm các lần sửa đổi Hiến pháp trước đây là như vậy. Chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi song chưa đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân, nhân dân chưa có quyền phúc quyết Hiến pháp mà lẽ ra quyền phúc quyết Hiến pháp là quyền đương nhiên của người dân dưới chế độ dân chủ cộng hòa.
Trước tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi mà vẫn chưa đạt yêu cầu. Nếu tính từ năm 1946 đến 1992 là 46 năm, ta đã sửa đổi lớn 3 lần vào các năm 1959, 1980 và 1992. Đó là chưa kể nhiều lần chúng ta sửa đổi nhỏ khác.
Sửa đổi như vậy là nhiều lần rồi, song dân chưa được phúc quyết lần nào. Hiến pháp 1946 quy định dân phúc quyết Hiến pháp song dân cũng chưa được phúc quyết vì chiến tranh đã xảy ra ngay sau đó.
Còn Hiến pháp sửa đổi 1959 lại quy định Quốc hội có quyền lập Hiến và lập Pháp. Thay đổi quan trọng đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất khả kháng là đất nước trong tình trạng chiến tranh và chia cắt hai miền Nam - Bắc; rồi chịu ảnh hưởng của mô hình cộng hòa Xô Viết,...
Tuy vậy, chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa là quyền lập hiến phải thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.
![]() Nguyên Chủ tịch QH Nguyễn Văn An. |
Ai là chủ đất nước?
Thứ hai, tôi cho rằng các lần sửa đổi Hiến pháp sau này có một vài vấn đề cốt lõi lại xa rời hoặc lại không rõ ràng bằng Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Có nhiều vấn đề, ở đây tôi chỉ đề cập tới 3 vấn đề cốt lõi:
Đầu tiên, Hiến pháp phải làm rõ AI LÀ CHỦ ĐẤT NƯỚC? NGƯỜI CHỦ ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ? Với câu hỏi này, có thể nhiều người sẽ nói ngay rằng Dân làm chủ chứ ai. Đúng. Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp và Pháp luật của nhà nước đều khẳng định như vậy. Quốc hiệu của Việt Nam đã ghi rất rõ: "Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Thể chế chính trị là Dân chủ Cộng hòa, khác hoàn toàn với Quân chủ.
Do vậy, người chủ đất nước không phải là Vua nữa mà chính là Dân (không phân biệt thành phần, giới tính, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo...).
Song quy định cụ thể về quyền làm chủ trực tiếp của người dân thì còn quá ít, nhất là quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thì các Hiến pháp sửa đổi sau này lại ghi khác hoàn toàn với Hiến pháp năm 1946:
Điều 21 của Hiến pháp 1946 quy định: "Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều 32 và Điều 70".
Điều 32 của Hiến pháp 1946 quy định: "Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tống số nghị viện đồng ý".
Điều 70 của Hiến pháp 1946 quy định: "Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây... Khi được nghị viên ưng chuẩn, phải đưa ra toàn dân phúc quyết".
Những quy định trên đây của Hiến pháp 1946 có nghĩa rằng quyền lập Hiến hoàn toàn thuộc về toàn dân, thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.
Hiến pháp 1946 không có một điều nào, một ý nào quy định quyền lập Hiến thuộc về Quốc hội.
Các Hiến pháp sửa đổi sau này laị quy định Quốc hội có quyền lập Hiến:
Điều 43, 44 và 50 của Hiến pháp 1959 ghi: "Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa", là cơ quan duy nhất "có quyền lập Pháp", có quyền "làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp".
Điều 6 của Hiến pháp 1980 quy định: "Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân".
Điều 82 của Hiến pháp 1980 và Điều 83 của Hiến pháp 1992 quy định: "Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập Pháp"...
Chúng ta nhận thấy ngay rằng đã có sự thay đổi rất lớn, rất cơ bản về quyền lập Hiến từ Dân đã được chuyển sang Quốc hội.
Câu hỏi đặt ra là ai có quyền chuyển quyền đó? Câu trả lời rõ ràng là chỉ có Dân mới có quyền đó. Song Dân chưa có văn bản nào chuyển quyền lập Hiến của Dân sang Quốc hội cả, mà là do chính Quốc hội tự quyết định giao quyền lập Hiến cho mình.
Có thể nói đơn giản thế này: Ai là người có quyền tối hậu trong lập Hiến thì người đó là người chủ đích thực của đất nước. Từ chỗ Dân làm chủ trực tiếp trong lập Hiến, chuyển sang chỗ Dân làm chủ gián tiếp thông qua Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Dân. Như vậy có thể nói, từ Dân làm chủ đích thực chuyển sang Quốc hội thay mặt cho dân làm chủ.
Đó là sự thay đổi, sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước.
Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi.
Dân làm chủ có nghĩa là Dân phải quyết trực tiếp thể chế quốc gia, tức là Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, rồi Dân giao cho Nhà nước và giám sát Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ và Tòa án) quản lý đất nước theo Hiến pháp và những quyết định đó của Dân. Như vậy Dân mới làm chủ đích thực.
Đây là vấn đề xa rời bản chất dân chủ của nhà nước, cả về pháp lý, cả về thực tiễn. Như trên đã nói, do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân bất khả kháng, vì vậy, chúng ta đã chuyển từ Dân chủ thành Quốc hội chủ. Song về thực chất thì Quốc hội cũng còn nhiều hình thức.
Hiện nay khoảng 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Do vậy mà nhiều người cho rằng, về hình thức thì Quốc hội quyết, song thực chất là Đảng quyết . Quyết định của Quốc hội chỉ là quyết định mở rộng trong nội bộ Đảng. Như vậy là từ Dân chủ đầy đủ chuyển sang Quốc hội chủ một phần, Dân chủ một phần, song cả Dân và Quốc hội đều còn nhiều hình thức nên nhiều người cho rằng Đảng mới thực quyền. Thực tế đó cho thấy, quyền của Dân - của người làm chủ còn bị phân tán quá lớn.
Nói cho dễ hiểu, ai làm chủ đất nước thì người đó phải có hai điều kiện, hai quyền thực chất tối thiểu là:
a/ - Bầu cơ quan đại diện cao nhất cho mình (Quốc hội) để bầu cử ra các cơ quan Nhà nước,
b/ - Phúc quyết Hiến pháp để giao quyền của Dân cho các cơ quan Nhà nước thực thi.
![]() Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. |
Ngay Hiến pháp 1946 tuy đã qui định rất rõ quyền lập Hiến thuộc về nhân dân, song cũng không thực hiện được trong thực tiễn vì lý do bất khả kháng là chiến tranh đã nổ ra ngay sau đó.
Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nhân dân ta là người chủ đất nước, song Nhà nước ta chưa một lần nào hỏi ý kiến Dân với tính chất là trưng cầu dân ý cả. Nhân dân ta chủ yếu mới làm chủ gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện như Quốc hội và HĐND các cấp, nhân dân mới làm chủ trực tiếp trong bầu cử trưởng thôn, bầu cử đại biểu QH và HĐND các cấp. Như vậy chưa đúng với quyền và nghĩa vụ của người Dân trong thể chế Dân chủ Cộng hòa trong điều kiện hòa bình và thống nhất đất nước như hiện nay.
Nếu Dân được phúc quyết Hiến pháp thì Hiến pháp chính là văn bản pháp lý quan trọng nhất của Dân trao quyền lực của Dân cho Nhà nước.
Ngược lại, nếu Dân chưa được phúc quyết Hiến pháp thì cũng có nghĩa là Dân chưa trao quyền lực của Dân cho Nhà nước bằng một văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp.
Sửa đổi Hiến pháp lần này cần giao lại quyền phúc quyết cho dân như Hiến pháp 1946 đã quy định cho đúng với bản chất của thể chế cộng hòa hoặc dân chủ cộng hòa, hoặc cộng hòa xã hội chủ nghĩa.
Quyền lực của nguyên thủ quốc gia bị phân tán 3 nơi
Vấn đề thứ hai là việc xác định: AI LÀ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA? VÀ NGƯỜI ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ?
Vấn đề này Hiến pháp 1946 ghi rất rõ, và Nhà nước ta khi đó thực hành cũng rất tốt.
Các Hiến pháp sửa đổi sau này lại không rõ ràng bằng Hiến pháp 1946, và trong thực hành cũng rất lúng túng.
Theo quy luật tự nhiên, đàn chim bao giờ cũng có chim đầu đàn, đàn trâu bao giờ cũng có trâu đầu đàn, dàn nhạc phải có nhạc trưởng,... Với một quốc gia cũng vậy, quốc gia nào cũng phải có một nguyên thủ.
Về quy định này, tại Điều 49 của Hiến pháp 1946 ghi cụ thể về quyền của Chủ tịch Nước như sau:
a, Thay mặt cho Nước...
b, Giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc...
c, Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng....
d, Chủ tịch Hội đồng Chính phủ ...
...................
h, Ký hiệp ước với các nước....
Và Điều 50 của Hiến pháp 1946 cũng ghi: "Chủ tịch Nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc".
Những quy định của Hiến pháp 1946 rất ngắn gọn, rõ ràng rằng Chủ tịch Nước là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho Nhà nước về đối nội, đối ngoại; thống lĩnh các lực lượng vũ trang; và cũng là người đứng đầu cơ quan hành pháp là Chính phủ.
Nói cho dễ hiểu, nguyên thủ quốc gia phải có ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu như sau:
a, Thay mặt cho Nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại,
b, Đứng đầu cơ quan hành pháp,
c, Thống lĩnh lực lượng vũ trang,
Các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) đều giảm nhẹ vai trò của Chủ tịch Nước, không rõ thực chất quyền của một nguyên thủ quốc gia. Điều đó không phải lỗi của vị Chủ tịch nước nào, mà chẳng qua là do các Hiến pháp sửa đổi sau này quy định như vậy:
Điều 6 của Hiến pháp 1959 quy định: "Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người thay mặt cho Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về đối nội và đối ngoại".
Điều 65 của Hiến pháp 1959 quy định: "Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống lĩnh các lực lượng vũ trang trong toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng", song thực chất Tổng Bí thư mới là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang.
Điều 66 của Hiến pháp 1959 quy định: "Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và Chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ". Quy định như vậy là làm giảm nhẹ hẳn vai trò của Chủ tịch Nước trong cơ quan hành pháp so với Hiến pháp 1946.
Như vậy, các Hiến pháp sửa đổi sau này đều quy định không rõ ràng và không tập trung quyền của Chủ tịch nước bằng Hiến pháp 1946. Rõ ràng không có ai hội đủ ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu của một nguyên thủ quốc gia như Hiến pháp 1946.
Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang song về pháp lý lại không thay mặt cho nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại, cũng không đứng đầu cơ quan hành pháp.
Thủ tướng Chính phủ đứng đầu Chính phủ nhưng lại không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp và cũng không thống lĩnh lực lượng vũ trang.
Chủ tịch Nước thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng trong thực tiễn lại không thống lĩnh lực lượng vũ trang, cũng như không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay rằng quyền lực của một nguyên thủ quốc gia lại bị phân tán làm ba nơi, do ba người nắm giữ. Tức là ta có ba người thực thi quyền của một nguyên thủ trong điều hành thực tiễn, như thế có phân tán quyền của nguyên thủ quốc gia không? Tôi cho là quá phân tán.
Tới đây, chúng ta phải sửa đổi bổ sung Hiến pháp làm sao để chỉ có một nguyên thủ quốc gia, tập trung quyền hành pháp vào người đứng đầu để điều hành đất nước có hiệu lực và hiệu quả hơn.
Việc không rõ nguyên thủ quốc gia, không rõ con chim đầu đàn, không rõ nhạc trưởng, hậu quả thế nào thật dễ hiểu, dễ thấy.
Phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước
Cuối cùng là VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC. Phân công phải hướng tới cân bằng tương đối, phải rõ ràng, rành mạch; kiểm soát phải có chế tài, phải chặt chẽ, hiệu lực.
Phân công phải cân bằng thì mới có khả năng kiểm soát hiệu lực, kiểm soát hiệu lực nằm ngay trong sự phân công công bằng.
Nhìn lại lịch sử của thể chế quân chủ cho thấy, quyền lực tập trung vào nhà Vua, mà quyền lực bao giờ cũng có xu hướng lạm quyền, thoái hóa... Do đó mà triều đại nào lên, lúc đầu thường là được lòng người, sau lại thoái hóa, lại bị triều đại sau thay thế. Những sự thay thế đó thường diễn ra khi triều đại cũ đã quá thối nát, quá cản trở sự phát triển của xã hội và thường bị thay thế bằng bạo lực.
Chính vì thế mà thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa đã áp dụng sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực để chống độc quyền, hạn chế sự lạm quyền và khi cần thì thay thế ê kíp cầm quyền một cách chủ động, kịp thời, thông qua tranh cử nghị viện.
Quyền lực dưới thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa không tập trung vào một người hay một lực lượng, cơ quan nào, mà phân công tương đối cân bằng cho ba cơ quan: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp (Quốc hội - Chính phủ - Tòa án): Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, và Tòa án là cơ quan xét xử cao nhất.
Nghiên cứu kỹ các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) thì thấy rằng những quy định để cân bằng và kiểm soát quyền lực lại không được rõ ràng và cân bằng như Hiến pháp 1946.
Ví dụ, Quốc hội có quyền lập Hiến, điều đó có nghĩa rằng quyền lực của Quốc hội vượt trội quá lớn so với các cơ quan hành pháp và tư pháp. Quốc hội có quyền phân công quyền lực cho cả các cơ quan hành pháp và tư pháp, và cho cả chính mình.
Đúng ra, quyền lập Hiến phải là quyền của Dân chứ không phải của Quốc hội. Do đó mà quyền của Dân cũng bị phân tán và yếu thế, không đúng với quyền của người làm chủ.
Hoặc quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ở ba nơi, điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của cơ quan hành pháp quá yếu thế so với cơ quan lập pháp.
Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp và còn bị chi phối trong xét xử.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, phân công quyền lực không cân bằng, không rõ ràng thì sự kiểm soát sẽ không có hiệu lực và hiệu quả. Tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu, cơ hội là những biểu hiện của sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực rõ ràng nhất. Nó cũng là hậu quả của sự phân công và kiểm soát quyền lực chưa được cân bằng như quy định của Hiến pháp 1946.
Cân bằng và kiểm soát quyền lực là một cơ chế cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp nhằm tránh sự lạm quyền và thoái hóa mà trong thể chế quân chủ chuyên chế đã bất lực. Tất nhiên không thể nói tuyệt đối được, vì thể chế nào cũng phải thông qua con người cụ thể. Nhưng có một cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực cho ba cơ quan Nhà nước, sẽ tốt hơn rất nhiều so với cơ chế tập trung quyền lực vào một ông vua, hoặc vào bất kỳ một lực lượng, một cơ quan nào khác.
Cân bằng và kiềm soát quyền lực là một sự tiến bộ về khoa học và nghệ thuật cầm quyền, là một bước tiến của văn minh nhân loại về quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, sửa đổi bổ sung Hiến pháp lần này phải quan tâm để làm rõ ràng hơn, hoàn thiện tốt hơn sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.
Tóm lại, ở đây nhấn mạnh có ba vấn đề cốt lõi cần được bàn kỹ trong đợt sửa Hiến pháp tới đây:
1/- Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, để cho đúng nghĩa với thể chế Dân chủ Cộng hòa, Dân là chủ đích thực của đất nước.
2/- Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan hành pháp.
3/- Phân công và kiểm soát quyền lực cần được cân bằng hơn, nhằm phòng ngừa sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và cơ hội trong hệ thống chính trị.
Tôi hy vọng tới đây, nhân dân ta sẽ được hưởng quyền và làm nghĩa vụ của người chủ đích thực của đất nước là: Tham gia ý kiến và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này.
- Thu Hà (lược ghi)
Ân Xá Quốc Tế đòi không đưa Linh mục Nguyễn Văn Lý trở lại nhà tù
Tro.ng Nghi~a (RFI)
Ngày 15 tháng ba sắp tới là ngày mà Linh Mục Công giáo Nguyễn Văn Lý hết hạn được tại ngoại một năm để chữa bệnh. Trong bối cảnh sức khỏe của ông rất yếu, vào hôm qua, tổ chức bảo vệ nhân quyền Amnesty International đã chính thức phát động phong trào vận động để ông không phải trở lại nhà giam. Ân Xá Quốc tế cũng đề nghị kêu gọi chính quyền Việt Nam “Trả tự do cho cha Lý ngay lập tức và vô điều kiện".
Ngày 15 tháng ba sắp tới là ngày mà Linh Mục Công giáo Nguyễn Văn Lý hết hạn được tại ngoại một năm để chữa bệnh. Trong bối cảnh sức khỏe của ông rất yếu, vào hôm qua, tổ chức bảo vệ nhân quyền Amnesty International đã chính thức phát động phong trào vận động để ông không phải trở lại nhà giam. Ân Xá Quốc tế cũng đề nghị kêu gọi chính quyền Việt Nam “Trả tự do cho cha Lý ngay lập tức và vô điều kiện".
Trong một bản thông báo khẩn cấp, tổ chức bảo vệ nhân quyền trụ sở tại Anh Quốc đã kêu gọi mọi người viết thư cho hai bộ trưởng bộ Ngoại giao và bộ Công An Việt Nam, nội dung yêu cầu chính quyền Việt Nam không đưa cha Lý trở lại nhà tù khi thời hạn tạm hoãn thi hành án của ông kết thúc vào tháng 3 tới đây.
Ân xá Quốc tế cũng đề nghị kêu gọi chính quyền Việt Nam : “Trả tự do cho cha Lý ngay lập tức và vô điều kiện vì ông là một tù nhân lương tâm, bị bắt chỉ vì thể hiện niềm tin của mình một cách bất bạo động’’. Bản thông cáo của Ân xá Quốc tế nhắc lại rằng Linh mục Công giáo Nguyễn Văn Lý là một người đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam.
Ông là một trong những sáng lập viên của Khối 8406, đồng thời chủ trương một tờ báo bị cấm mang tên Tự Do Ngôn luận. Ông đã bị kết án 8 năm tù vào năm 2007 với tội danh "tuyên truyền chống nhà nước".
Theo Ân xá Quốc tế, sức khỏe cha Lý rất kém. Khi ở trong tù ông đã bị một cơn đột quỵ vào tháng 11 năm 2009, bị liệt một phần thân sau khi bị biệt giam. Ông cũng không được thuốc men đầy đủ để trị bệnh.
Ngày 15 tháng 3 năm 2010, cha Lý đã được tạm hoãn thi hành án tù 8 năm trong thời hạn 12 tháng, để ông có thể được điều trị sau khi được chẩn đoán là bị khối u ở não. Ông được đưa về quản chế tại một ngôi nhà cho các linh mục về hưu thuộc giáo phận Huế.
Ân xá Quốc tế cũng đề nghị kêu gọi chính quyền Việt Nam : “Trả tự do cho cha Lý ngay lập tức và vô điều kiện vì ông là một tù nhân lương tâm, bị bắt chỉ vì thể hiện niềm tin của mình một cách bất bạo động’’. Bản thông cáo của Ân xá Quốc tế nhắc lại rằng Linh mục Công giáo Nguyễn Văn Lý là một người đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ và quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam.
Ông là một trong những sáng lập viên của Khối 8406, đồng thời chủ trương một tờ báo bị cấm mang tên Tự Do Ngôn luận. Ông đã bị kết án 8 năm tù vào năm 2007 với tội danh "tuyên truyền chống nhà nước".
Theo Ân xá Quốc tế, sức khỏe cha Lý rất kém. Khi ở trong tù ông đã bị một cơn đột quỵ vào tháng 11 năm 2009, bị liệt một phần thân sau khi bị biệt giam. Ông cũng không được thuốc men đầy đủ để trị bệnh.
Ngày 15 tháng 3 năm 2010, cha Lý đã được tạm hoãn thi hành án tù 8 năm trong thời hạn 12 tháng, để ông có thể được điều trị sau khi được chẩn đoán là bị khối u ở não. Ông được đưa về quản chế tại một ngôi nhà cho các linh mục về hưu thuộc giáo phận Huế.
Từ Tunis đến Cairo, cả một hệ thống chế độ toàn trị hấp hối
Tu' Anh (RFI)
Chính sách toàn trị, độc quyền lãnh đạo, thâu tóm quyền lợi kinh tế trong suốt 30 năm qua đã dẫn đến tình trạng bế tắc ở các nước A Rập. Hậu quả là giới trẻ phải lên tiếng đòi quyền sống. Theo các chuyên gia trong khu vực thì không một cản lực nào có thể ngăn chận « hương hoa lài » và cứu vãn được số phận của những chế độ toàn trị đang hấp hối.
Phong trào phản kháng tại Ai Cập lan rộng sau 16 ngày tranh đấu với khẩu hiệu và cũng là mục tiêu tối hậu : « chấm dứt 30 năm chế độ Mubarak ». Cách nay đúng một tháng, vào ngày 13/12/2010, tại Doha, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton , không rõ vô tình hay cố ý, đã đưa ra một lời cảnh cáo mang tính tiên tri « các chính quyền Trung Đông phải đáp ứng khát vọng tự do và dân chủ của người dân ».
Bốn ngày sau, một thanh niên Tunisia có học thức nhưng thất nghiệp đi bán hàng rong tự thiêu để phản đối hành động bức hiếp của công an. Ngọn lửa phẩn uất này đã châm ngòi cho « cách mạng hoa lài ».
Khi "cách mạng hoa lài" thành công tại Tunisia rồi tiếp đến là biểu tình tại Ai Cập, ngoại trưởng Mỹ nhắc lại nội dung lời tuyên bố tại Doha và nói rằng không phải bà đe dọa mà thật ra bà nói lên tâm tư của xã hội công dân Ả Rập tiếp xúc với ngoại trưởng Mỹ và nhờ bà chuyển lại cấp lãnh đạo quốc gia.
Theo kinh tế gia Lahcen Achy thuộc Trung tâm nghiên cứu Carnegie khu vực Trung Đông, thì « nếu domino Ai Cập sụp đổ thì không ai có thể chận đứng hệ quả lây lan ». Vấn đề là « các chính quyền khác trong vùng có khả năng thích nghi đến đâu cải cách kịp thời trước khi dân chúng nổi dậy ».
Trung Quốc , Ấn Độ .. lo ngại
Theo nhà kinh tế này thì cuộc khủng hoảng hiện nay tại Ả Rập là cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội đầu tiên của các nước « đang trỗi dậy ». Do đó cuộc nổi dậy của dân chúng tại Tunisia và tại Ai Cập được chính quyền Bắc Kinh, New Dehli cũng như ở Nam Phi và Brazil theo dõi rất sát.
Theo Samir Ata, chủ tịch câu lạc bộ kinh tế gia Ả Rập thì « sai lầm » của các chính quyền trong khu vực « là đặt chính trị lên trên kinh tế ». Họ tóm thu hết ưu quyền đặc lợi rồi xây dựng một hệ thống « bè phái » và « cha truyền con nối ».
Giáo sư chính trị người Liban, ông Ghassan Salamé, nguyên là cố vấn của cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, hiện nay là nhà nghiên cứu tại Viện Quan hệ Quốc tế Paris nhận định : Cuộc nổi dậy hiện nay là hành động vùng lên của « đạo lý », của quyết tâm « đập tan chế độ toàn trị và tham ô ».
Chuyên gia Liban cảnh báo là những ai chưa chịu hiểu là khi nói đến « chính trị » là nói đến « đạo đức » thì sẽ không bao giờ hiểu tại sao người dân Trung Đông nổi dậy. Trung Đông đang bước vào một thời đại mới.
Để tìm hiểu thêm về bài học « cách mạng hoa lài » và những viễn ảnh bất trắc về địa lý chính trị trong khu vực, RFI đặt câu hỏi với giáo sư quan hệ quốc tế Lê Đình Thông, đại học Paris Nanterre.
Giáo sư Lê Đình Thông : « Chế độ toàn trị không cho người dân có cơ hội phát triển và có ý kiến. Khát vọng dân chủ của người dân Ai Cập đã được Tổng tư lệnh quân đội công nhận là chính đáng. Tương lai chính trị của
Ai Cập sẽ tùy thuộc vào cách giải quyết của người dân , tùy thuộc vào tương quan lực lượng tại quốc hội tương lai…..Cách mạng hoa lài sẽ lan đến những nơi nào có cùng hoàn cảnh chính trị kinh tế như Ai Cập và Tunisie đó là độc tài, tham ô, nghèo khó và thất nghiệp…lời kêu gọi của ngoại trưởng Mỹ tại Doha là bài học rút gọn để các chế độ toàn trị suy nghĩ ».
Chính sách toàn trị, độc quyền lãnh đạo, thâu tóm quyền lợi kinh tế trong suốt 30 năm qua đã dẫn đến tình trạng bế tắc ở các nước A Rập. Hậu quả là giới trẻ phải lên tiếng đòi quyền sống. Theo các chuyên gia trong khu vực thì không một cản lực nào có thể ngăn chận « hương hoa lài » và cứu vãn được số phận của những chế độ toàn trị đang hấp hối.
Phong trào phản kháng tại Ai Cập lan rộng sau 16 ngày tranh đấu với khẩu hiệu và cũng là mục tiêu tối hậu : « chấm dứt 30 năm chế độ Mubarak ». Cách nay đúng một tháng, vào ngày 13/12/2010, tại Doha, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton , không rõ vô tình hay cố ý, đã đưa ra một lời cảnh cáo mang tính tiên tri « các chính quyền Trung Đông phải đáp ứng khát vọng tự do và dân chủ của người dân ».
Bốn ngày sau, một thanh niên Tunisia có học thức nhưng thất nghiệp đi bán hàng rong tự thiêu để phản đối hành động bức hiếp của công an. Ngọn lửa phẩn uất này đã châm ngòi cho « cách mạng hoa lài ».
Khi "cách mạng hoa lài" thành công tại Tunisia rồi tiếp đến là biểu tình tại Ai Cập, ngoại trưởng Mỹ nhắc lại nội dung lời tuyên bố tại Doha và nói rằng không phải bà đe dọa mà thật ra bà nói lên tâm tư của xã hội công dân Ả Rập tiếp xúc với ngoại trưởng Mỹ và nhờ bà chuyển lại cấp lãnh đạo quốc gia.
Theo kinh tế gia Lahcen Achy thuộc Trung tâm nghiên cứu Carnegie khu vực Trung Đông, thì « nếu domino Ai Cập sụp đổ thì không ai có thể chận đứng hệ quả lây lan ». Vấn đề là « các chính quyền khác trong vùng có khả năng thích nghi đến đâu cải cách kịp thời trước khi dân chúng nổi dậy ».
Trung Quốc , Ấn Độ .. lo ngại
Theo nhà kinh tế này thì cuộc khủng hoảng hiện nay tại Ả Rập là cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội đầu tiên của các nước « đang trỗi dậy ». Do đó cuộc nổi dậy của dân chúng tại Tunisia và tại Ai Cập được chính quyền Bắc Kinh, New Dehli cũng như ở Nam Phi và Brazil theo dõi rất sát.
Theo Samir Ata, chủ tịch câu lạc bộ kinh tế gia Ả Rập thì « sai lầm » của các chính quyền trong khu vực « là đặt chính trị lên trên kinh tế ». Họ tóm thu hết ưu quyền đặc lợi rồi xây dựng một hệ thống « bè phái » và « cha truyền con nối ».
Giáo sư chính trị người Liban, ông Ghassan Salamé, nguyên là cố vấn của cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, hiện nay là nhà nghiên cứu tại Viện Quan hệ Quốc tế Paris nhận định : Cuộc nổi dậy hiện nay là hành động vùng lên của « đạo lý », của quyết tâm « đập tan chế độ toàn trị và tham ô ».
Chuyên gia Liban cảnh báo là những ai chưa chịu hiểu là khi nói đến « chính trị » là nói đến « đạo đức » thì sẽ không bao giờ hiểu tại sao người dân Trung Đông nổi dậy. Trung Đông đang bước vào một thời đại mới.
Để tìm hiểu thêm về bài học « cách mạng hoa lài » và những viễn ảnh bất trắc về địa lý chính trị trong khu vực, RFI đặt câu hỏi với giáo sư quan hệ quốc tế Lê Đình Thông, đại học Paris Nanterre.
Giáo sư Lê Đình Thông : « Chế độ toàn trị không cho người dân có cơ hội phát triển và có ý kiến. Khát vọng dân chủ của người dân Ai Cập đã được Tổng tư lệnh quân đội công nhận là chính đáng. Tương lai chính trị của
Friday, February 4, 2011
Kami - Hãy sát vai cùng các blogger tự do đang ở Việt nam
Nguo^`n RFA
31.01.2011
(Mến tặng Trương Duy Nhất và các bạn nhà báo đang còn lưỡng lự …)
Cách đây chưa lâu, nhà báo-blogger Trương Duy Nhất đã thông cáo cùng cộng đồng blog rằng Trương Duy Nhất đã “Nghỉ báo viết blog“, Trương Duy Nhất đã trả thẻ nhà báo để từ nay trở thành một blogger hoàn chỉnh, để có thể viết ra những điều mà vốn lâu nay vẫn đau đáu trong tâm mà chưa có điều kiện viết ra hết vì còn nhiều nỗi lo. Tới hôm nay sau chỉ vài ngày, cũng nhà báo Trương Duy Nhất đã thẳng thắn lên tiếng không chút e dè “Đừng đọc báo, hãy đọc blog!” và kêu gọi các nhà quản lý báo chí hãy đừng bảo thủ đến mức đi phân rạch báo chí chính thống chính thống với báo chí ngoài luồng.
Nghề báo ở Việt Nam ta nhiều chục năm nay là như vậy, hẳn những ai đã từng là nhà báo hay viết báo dưới chế độ hiện nay đều rõ, muốn an tâm để coi nghề báo là một nghề kiếm sống, nuôi vợ con thì hãy viết những điều mà lãnh đạo tòa báo họ muốn, còn nếu ai muôn viết theo tâm của mình, hay viết vì độc giả, vì sự tiến bộ xã hội thì đó là việc chỉ dành cho mấy tay nhà báo “bất mãn” hay có tư tưởng chống đối như đánh giá của mấy vị làm công tác quản lý báo chí. Mà giả sử có ai viết như vậy thì họ cũng biết chắc bài viết sẽ bị biên tập cắt sửa cho đến khi hết nhẵn những ý của người viết cố cài vào thì họ mới chịu,để rồi cuối cùng khi bài viết xong xuôi được lên trang để đến với bạn đọc thì khi đó nó được ví như món đồ gỗ xộc xệch bởi một ông thợ mộc tay nghề dở sẽ làm mất công chửi của mấy bạn đọc nóng tính. Tóm lại sau mỗi bài viết kiểu như vậy thì cả người viết và người đọc đều có cảm giác chung là chán, bực mình kiểu như vừa bị lừa, vừa bị họ coi thường. Tất cả các nhà báo ai rất hiểu rõ điều này, nhưng cuối cùng họ cũng vì miếng cơm, manh áo của bả thân và vợ con thì ai cũng đành tặc lưỡi, nhắm mắt viết cho xong, viết theo yêu cầu của lãnh đạo để đảm bảo kế hoạch công tác.
Chắc đó cũng chính là lý do buộc nhà báo Trương Duy Nhất phải nghỉ viết báo để quay sang viết blog với suy nghĩ “ Trong thời buổi bạn đọc tẩy chay báo, chính người làm báo cũng không thèm đọc báo, mọi giới mọi ngành mọi người mọi nhà, từ gã thường dân đến quan chức hàng nguyên thủ, trung ương ủy viên… ai nấy đều quay sang đọc blog đến nghẽn mạng- Thế thì tại sao lại không nói không với báo, nghỉ làm báo để viết blog? “. Suy nghĩ đó cũng là tâm trạng chung của mỗi nhà báo còn có lương tâm của chính mình và còn biết phân biệt lẽ phải, đó là những người còn giữ được chút đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, người cầm bút.
Chuyện kiểm soát, kiểm duyệt khắt khe và không cho tự do báo chí là điều thường xảy ra của một chế độ xã hội cai trị theo kiểu độc tài như ở Việt Nam, mà ở đó những kẻ cầm quyền không có sự tin tưởng vào khả năng cai trị và sự tồn tại của chính họ, khi mà trong mắt họ thì lực lượng nhà báo có tính cách đối lập, thích động chạm đến sự thật và lẽ phải là lực lượng nguy hiểm, có khả năng gây bất ổn cho chính quyền. Các nhà độc tài cảm giác những ngòi bút của lực lượng nhà báo đó là những cái đòn bẩy có thể dùng để xoay hay lật đổ cả một chế độ như nhà thơ Sóng Hồng đã mô tả trong hai câu thơ:
” … Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ.
Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền…”
Với suy nghĩ như vậy của các nhà cầm quyền độc tài thì đó chính là cách suy nghĩ sai, thiển cận dẫn tới các phản ứng bằng cách làm ngược, thay vì phải lắng nghe và quản lý báo chí bằng luật, phải coi báo chí là cơ quan quyền lực thứ tư, có vai trò tham gia giúp cho chính quyền quản lý và thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo tính chất tích cực vốn có của báo chí. Từ sợ báo chí, tới không biết quản lý báo chí để tận dụng mặt tích cực của nó thì họ lại dùng cách cấm đoán tới mức triệt để, bất kể điều đó vi phạm Luật báo chí hay Hiến pháp của đất nước.
So với tôi về tuổi đời thì Trương Duy Nhất ít tuổi hơn tuy không nhiều, tôi từng có suy nghĩ như kiểu hôm nay của Trương Duy Nhất từ rất lâu, cũng từng lo lắng về cuộc sống không chỉ của cá nhân mà của cả vợ con và người thân vì luôn vướng víu chuyện không biết là nếu bỏ nghề viết “thuê”, không có nhuận bút thì sẽ làm gì để sinh nhai, nhưng quan trọng hơn cả thời ấy cái hành động bỏ việc cơ quan nhà nước ra ngoài làm tự do dưới con mắt mọi người hình như nó rất xấu thì phải. Nhưng cuối cùng tôi cũng đã vượt qua được và quyết định hành động như Trương Duy Nhất đã vừa mới làm, đó là trả lại tấm Thẻ Nhà báo, cái vốn là chiếc cần câu cơm của cá nhân mình, của gia đình mình từ rất lâu rồi.
Sau quyết định đó cuộc sống cũng có chút đảo lộn, xong mọi thứ đời thường rồi cũng đâu vào đấy, cuộc sống dần ổn định nhanh chóng và cũng ngày một tốt hơn, nhất là về mặt tư tưởng và tinh thần, viết lách cũng thoải mái vì được và dám viết ra những điều mình bức xúc về đời sống, con người và xã hội. Mà mãi đến sau này mới rút ra một điều nay muốn nói lại với mọi người rằng, tạo hóa đã sinh ra con người, đã sinh ra mình thì tạo hóa cũng cho con người cái bản năng sinh tồn rất mãnh liệt, chết được cũng không phải chuyện dễ. Nhất là con người Việt Nam ta thường có bản năng “Đói thì đầu gối phải bò” để sinh tồn, rất dễ sống và tóm lại chẳng có lý do gì để sợ mà người cầm bút không dám dứt bỏ cái sợi xích vô hình đang bó buộc tâm hồn mình mà mình không còn thích. Nói ra điều đó để nhắn nhủ mọi người, nhất là những người đang cầm bút phải hiểu và lấy đó làm tôn chỉ cho mình khi cầm bút viết báo, không thể vì miếng cơm, manh áo của cá nhân vợ con mình mà bẻ cong ngòi bút, viết những điều họ (kẻ thuê mình) muốn mình viết bất kể đúng sai, chân lý kể cả chà đạp lên nhân phẩm của người khác như một số nhà báo đã và đang bị biến thành lũ bồi bút, hiện đang ngồi ở các tòa báo vốn là cái loa tuyên truyền của đảng CSVN như CAND, QĐND v.v… mà không biết xấu hổ, điều mà làm cho bạn đọc phải hứng chịu cái cảm giác đó lẫn sự bực mình khi đọc qua những bài viết của họ.
Tôi luôn luôn muốn mỗi một người cầm bút chúng ta, hãy là những nhà báo chân chính và xin hãy nhớ và làm theo như nhà thơ Phùng Quán đã viết trong bài thơ “Lời mẹ dặn” rằng:
“… Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.“
Những điều đó phải được coi như tuyên ngôn của những nhà báo chân chính có lòng với đất nước và dân tộc. Nếu mỗi chúng ta làm được như vậy, trước hết chúng ta sẽ không phải cảm thấy hổ thẹn đối với bản thân ta, bạn bè ta và vợ con ta. Quan trọng hơn là chúng ta sẽ được bạn bè trong cộng đồng tôn trọng vị nể với cái nhìn thiện cảm hơn.
Nhưng chắc chắn dù viết báo hay viết blog thì Trương Duy Nhất, cũng như tôi chắc sẽ có cùng chung quan điểm là phải có trách nhiệm viết ra những suy nghĩ của mình vì một tương lai tốt đẹp hơn cho tổ quốc Việt Nam bằng cách dùng ngòi bút của mình thông qua các loại phương tiện truyền thông để nâng cao dân trí xã hội, trên cơ sơ đảm bảo đạo đức, lương tâm người làm báo và tôn trọng sự thật, lẽ phải và sự công bằng. Chỉ có điều, với tôi đã là người cầm bút thì ở bất kỳ mặt trận nào, dù là viết báo hay blog thì chúng ta cũng chỉ có viết vì lẽ phải và sự trung thực, nhưng đừng nóng vội, bốc đồng, đặc biệt là không bao giờ nên sợ hãi hay tỏ ra mệt mỏi.
Đường xa mới biết ngựa hay, con người ta nói chung hay các bloggers cũng vậy, đích mà chúng ta đã và đang hướng tới không chỉ một thời gian ngắn mà có thể đạt được mà nó là một quá trình lâu dài, mà vai trò của mỗi chúng ta, mỗi blogger là cùng góp sức nhỏ bé của mình để cải tạo những cái chưa đúng, chưa tốt, chưa công bằng của xã hội hiện tại. Mọi người chúng ta xin đừng quên rằng, một nền truyền thông đối lập, hoàn chỉnh và hiệu quả chưa chắc đã lật đổ được một chế độ độc tài, nhưng chắc chắn một điều không có một hệ thống truyền thông tốt thì khó mà làm được việc đó. Bởi vậy, không chỉ các bloggers lề bên trái mà phải là toàn thể những người Việt Nam đã và đang cổ vũ, ủng hộ cho cuộc đấu tranh vì sự dân chủ và tự do của dân tộc, mỗi chúng ta đều phải có trách nhiệm chung tay, bằng mọi cách, dưới mọi hình thức có thể.
Bạn hãy thử hình dung xem, với thực tế hiện tại của nền báo chí quốc doanh, khi mà như nhà báo Trương Duy Nhất nói “ Trong thời buổi bạn đọc tẩy chay báo, chính người làm báo cũng không thèm đọc báo, mọi giới mọi ngành mọi người mọi nhà, từ gã thường dân đến quan chức hàng nguyên thủ, trung ương ủy viên… ai nấy đều quay sang đọc blog đến nghẽn mạng”. Nếu như chúng ta tạo điều kiện để vài chục, hay vài trăm nhà báo có tâm huyết với đất nước, với dân tộc đang ở trong nước sẽ làm theo Trương Duy Nhất đã làm, đó là trả thẻ nhà báo, không hợp tác để viết sai sự thật, trái lương tâm, viết theo sự chỉ đạo thì thử hỏi nền báo chí trong nước vốn quá nhàm chán sẽ còn lại những gì?
Xin đề nghị các tổ chức, các cá nhân hay các hội đoàn, các doanh nghiệp v.v… trong và ngoài nước hãy ủng hộ họ, thông qua các web site, các blog của cá nhân họ dưới mọi hình thức để các blogger sống và viết những điều họ muốn, sự giúp đỡ đó có thể là đặt quảng cáo cho sản phẩm hay doanh nghiệp, ủng hộ tài chính hay chỉ dù tối thiểu là những lần ta ghé thăm thường xuyên trang blog của họ nó cũng mang lại cho họ chút niềm vui và sự tin tưởng về tương lai của họ. Chúng ta không cần giúp họ để làm giàu nhưng phải giúp cho họ và gia đình đủ sống đàng hoàng, còn về phía họ, những nhà báo đó họ sẽ tự biết họ sẽ phải làm gì, viết gì mà không bị chính quyền sờ gáy, hoặc gây khó khăn cho gia đình và bản thân. Thế là đủ, nếu làm được việc đó là ta đã bắn một mũi tên trúng hai, ba đích, vừa tiêu hao sinh lực của đội bạn, vừa kích thích những tiếng nói đối lập dám lên tiếng. Nếu làm được điều đó, chắc chắn chỉ một thời gian ngắn số lượng các bloggers trong nước tham gia sẽ có số lượng không nhỏ, khi đó cái gì sẽ xảy ra?
Chắc chắn, chúng ta sẽ phá vỡ và làm càng suy yếu thế độc quyền của nền báo chí độc tôn của chính quyền, đó là một việc làm cần thiết và cấp bách. Được gác lại những nỗi âu lo về cơm áo, gạo tiền để có thể dám viết ra những điều mình trăn trở, đây là điều mà các blogger tự do trong nước vốn rất nặng lòng suy tư, xong vì hai chữ thể diện và danh dự của mình mà họ đã rất ngại không dám nói ra nhưng suy nghĩ như vậy.
Các bạn đã sẵn sàng dành sự ủng hộ của mình cho những bloggers tự do đang ở Việt Nam, đang mong muốn được viết những điều họ còn nhiều trăn trở về đất nước, xã hội và cuộc sống hiện tại một cách tự do mà không bị chút bó buộc nào như blogger Trương Duy Nhất hay chưa?
Xuân đỉnh, 29 tháng Chạp - ngày giáp Tết Tân Mão
31.01.2011
(Mến tặng Trương Duy Nhất và các bạn nhà báo đang còn lưỡng lự …)
Cách đây chưa lâu, nhà báo-blogger Trương Duy Nhất đã thông cáo cùng cộng đồng blog rằng Trương Duy Nhất đã “Nghỉ báo viết blog“, Trương Duy Nhất đã trả thẻ nhà báo để từ nay trở thành một blogger hoàn chỉnh, để có thể viết ra những điều mà vốn lâu nay vẫn đau đáu trong tâm mà chưa có điều kiện viết ra hết vì còn nhiều nỗi lo. Tới hôm nay sau chỉ vài ngày, cũng nhà báo Trương Duy Nhất đã thẳng thắn lên tiếng không chút e dè “Đừng đọc báo, hãy đọc blog!” và kêu gọi các nhà quản lý báo chí hãy đừng bảo thủ đến mức đi phân rạch báo chí chính thống chính thống với báo chí ngoài luồng.
Nghề báo ở Việt Nam ta nhiều chục năm nay là như vậy, hẳn những ai đã từng là nhà báo hay viết báo dưới chế độ hiện nay đều rõ, muốn an tâm để coi nghề báo là một nghề kiếm sống, nuôi vợ con thì hãy viết những điều mà lãnh đạo tòa báo họ muốn, còn nếu ai muôn viết theo tâm của mình, hay viết vì độc giả, vì sự tiến bộ xã hội thì đó là việc chỉ dành cho mấy tay nhà báo “bất mãn” hay có tư tưởng chống đối như đánh giá của mấy vị làm công tác quản lý báo chí. Mà giả sử có ai viết như vậy thì họ cũng biết chắc bài viết sẽ bị biên tập cắt sửa cho đến khi hết nhẵn những ý của người viết cố cài vào thì họ mới chịu,để rồi cuối cùng khi bài viết xong xuôi được lên trang để đến với bạn đọc thì khi đó nó được ví như món đồ gỗ xộc xệch bởi một ông thợ mộc tay nghề dở sẽ làm mất công chửi của mấy bạn đọc nóng tính. Tóm lại sau mỗi bài viết kiểu như vậy thì cả người viết và người đọc đều có cảm giác chung là chán, bực mình kiểu như vừa bị lừa, vừa bị họ coi thường. Tất cả các nhà báo ai rất hiểu rõ điều này, nhưng cuối cùng họ cũng vì miếng cơm, manh áo của bả thân và vợ con thì ai cũng đành tặc lưỡi, nhắm mắt viết cho xong, viết theo yêu cầu của lãnh đạo để đảm bảo kế hoạch công tác.
Chắc đó cũng chính là lý do buộc nhà báo Trương Duy Nhất phải nghỉ viết báo để quay sang viết blog với suy nghĩ “ Trong thời buổi bạn đọc tẩy chay báo, chính người làm báo cũng không thèm đọc báo, mọi giới mọi ngành mọi người mọi nhà, từ gã thường dân đến quan chức hàng nguyên thủ, trung ương ủy viên… ai nấy đều quay sang đọc blog đến nghẽn mạng- Thế thì tại sao lại không nói không với báo, nghỉ làm báo để viết blog? “. Suy nghĩ đó cũng là tâm trạng chung của mỗi nhà báo còn có lương tâm của chính mình và còn biết phân biệt lẽ phải, đó là những người còn giữ được chút đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, người cầm bút.
Chuyện kiểm soát, kiểm duyệt khắt khe và không cho tự do báo chí là điều thường xảy ra của một chế độ xã hội cai trị theo kiểu độc tài như ở Việt Nam, mà ở đó những kẻ cầm quyền không có sự tin tưởng vào khả năng cai trị và sự tồn tại của chính họ, khi mà trong mắt họ thì lực lượng nhà báo có tính cách đối lập, thích động chạm đến sự thật và lẽ phải là lực lượng nguy hiểm, có khả năng gây bất ổn cho chính quyền. Các nhà độc tài cảm giác những ngòi bút của lực lượng nhà báo đó là những cái đòn bẩy có thể dùng để xoay hay lật đổ cả một chế độ như nhà thơ Sóng Hồng đã mô tả trong hai câu thơ:
” … Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ.
Mỗi vần thơ, bom đạn phá cường quyền…”
Với suy nghĩ như vậy của các nhà cầm quyền độc tài thì đó chính là cách suy nghĩ sai, thiển cận dẫn tới các phản ứng bằng cách làm ngược, thay vì phải lắng nghe và quản lý báo chí bằng luật, phải coi báo chí là cơ quan quyền lực thứ tư, có vai trò tham gia giúp cho chính quyền quản lý và thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo tính chất tích cực vốn có của báo chí. Từ sợ báo chí, tới không biết quản lý báo chí để tận dụng mặt tích cực của nó thì họ lại dùng cách cấm đoán tới mức triệt để, bất kể điều đó vi phạm Luật báo chí hay Hiến pháp của đất nước.
So với tôi về tuổi đời thì Trương Duy Nhất ít tuổi hơn tuy không nhiều, tôi từng có suy nghĩ như kiểu hôm nay của Trương Duy Nhất từ rất lâu, cũng từng lo lắng về cuộc sống không chỉ của cá nhân mà của cả vợ con và người thân vì luôn vướng víu chuyện không biết là nếu bỏ nghề viết “thuê”, không có nhuận bút thì sẽ làm gì để sinh nhai, nhưng quan trọng hơn cả thời ấy cái hành động bỏ việc cơ quan nhà nước ra ngoài làm tự do dưới con mắt mọi người hình như nó rất xấu thì phải. Nhưng cuối cùng tôi cũng đã vượt qua được và quyết định hành động như Trương Duy Nhất đã vừa mới làm, đó là trả lại tấm Thẻ Nhà báo, cái vốn là chiếc cần câu cơm của cá nhân mình, của gia đình mình từ rất lâu rồi.
Sau quyết định đó cuộc sống cũng có chút đảo lộn, xong mọi thứ đời thường rồi cũng đâu vào đấy, cuộc sống dần ổn định nhanh chóng và cũng ngày một tốt hơn, nhất là về mặt tư tưởng và tinh thần, viết lách cũng thoải mái vì được và dám viết ra những điều mình bức xúc về đời sống, con người và xã hội. Mà mãi đến sau này mới rút ra một điều nay muốn nói lại với mọi người rằng, tạo hóa đã sinh ra con người, đã sinh ra mình thì tạo hóa cũng cho con người cái bản năng sinh tồn rất mãnh liệt, chết được cũng không phải chuyện dễ. Nhất là con người Việt Nam ta thường có bản năng “Đói thì đầu gối phải bò” để sinh tồn, rất dễ sống và tóm lại chẳng có lý do gì để sợ mà người cầm bút không dám dứt bỏ cái sợi xích vô hình đang bó buộc tâm hồn mình mà mình không còn thích. Nói ra điều đó để nhắn nhủ mọi người, nhất là những người đang cầm bút phải hiểu và lấy đó làm tôn chỉ cho mình khi cầm bút viết báo, không thể vì miếng cơm, manh áo của cá nhân vợ con mình mà bẻ cong ngòi bút, viết những điều họ (kẻ thuê mình) muốn mình viết bất kể đúng sai, chân lý kể cả chà đạp lên nhân phẩm của người khác như một số nhà báo đã và đang bị biến thành lũ bồi bút, hiện đang ngồi ở các tòa báo vốn là cái loa tuyên truyền của đảng CSVN như CAND, QĐND v.v… mà không biết xấu hổ, điều mà làm cho bạn đọc phải hứng chịu cái cảm giác đó lẫn sự bực mình khi đọc qua những bài viết của họ.
Tôi luôn luôn muốn mỗi một người cầm bút chúng ta, hãy là những nhà báo chân chính và xin hãy nhớ và làm theo như nhà thơ Phùng Quán đã viết trong bài thơ “Lời mẹ dặn” rằng:
“… Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêụ
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.“
Những điều đó phải được coi như tuyên ngôn của những nhà báo chân chính có lòng với đất nước và dân tộc. Nếu mỗi chúng ta làm được như vậy, trước hết chúng ta sẽ không phải cảm thấy hổ thẹn đối với bản thân ta, bạn bè ta và vợ con ta. Quan trọng hơn là chúng ta sẽ được bạn bè trong cộng đồng tôn trọng vị nể với cái nhìn thiện cảm hơn.
Nhưng chắc chắn dù viết báo hay viết blog thì Trương Duy Nhất, cũng như tôi chắc sẽ có cùng chung quan điểm là phải có trách nhiệm viết ra những suy nghĩ của mình vì một tương lai tốt đẹp hơn cho tổ quốc Việt Nam bằng cách dùng ngòi bút của mình thông qua các loại phương tiện truyền thông để nâng cao dân trí xã hội, trên cơ sơ đảm bảo đạo đức, lương tâm người làm báo và tôn trọng sự thật, lẽ phải và sự công bằng. Chỉ có điều, với tôi đã là người cầm bút thì ở bất kỳ mặt trận nào, dù là viết báo hay blog thì chúng ta cũng chỉ có viết vì lẽ phải và sự trung thực, nhưng đừng nóng vội, bốc đồng, đặc biệt là không bao giờ nên sợ hãi hay tỏ ra mệt mỏi.
Đường xa mới biết ngựa hay, con người ta nói chung hay các bloggers cũng vậy, đích mà chúng ta đã và đang hướng tới không chỉ một thời gian ngắn mà có thể đạt được mà nó là một quá trình lâu dài, mà vai trò của mỗi chúng ta, mỗi blogger là cùng góp sức nhỏ bé của mình để cải tạo những cái chưa đúng, chưa tốt, chưa công bằng của xã hội hiện tại. Mọi người chúng ta xin đừng quên rằng, một nền truyền thông đối lập, hoàn chỉnh và hiệu quả chưa chắc đã lật đổ được một chế độ độc tài, nhưng chắc chắn một điều không có một hệ thống truyền thông tốt thì khó mà làm được việc đó. Bởi vậy, không chỉ các bloggers lề bên trái mà phải là toàn thể những người Việt Nam đã và đang cổ vũ, ủng hộ cho cuộc đấu tranh vì sự dân chủ và tự do của dân tộc, mỗi chúng ta đều phải có trách nhiệm chung tay, bằng mọi cách, dưới mọi hình thức có thể.
Bạn hãy thử hình dung xem, với thực tế hiện tại của nền báo chí quốc doanh, khi mà như nhà báo Trương Duy Nhất nói “ Trong thời buổi bạn đọc tẩy chay báo, chính người làm báo cũng không thèm đọc báo, mọi giới mọi ngành mọi người mọi nhà, từ gã thường dân đến quan chức hàng nguyên thủ, trung ương ủy viên… ai nấy đều quay sang đọc blog đến nghẽn mạng”. Nếu như chúng ta tạo điều kiện để vài chục, hay vài trăm nhà báo có tâm huyết với đất nước, với dân tộc đang ở trong nước sẽ làm theo Trương Duy Nhất đã làm, đó là trả thẻ nhà báo, không hợp tác để viết sai sự thật, trái lương tâm, viết theo sự chỉ đạo thì thử hỏi nền báo chí trong nước vốn quá nhàm chán sẽ còn lại những gì?
Xin đề nghị các tổ chức, các cá nhân hay các hội đoàn, các doanh nghiệp v.v… trong và ngoài nước hãy ủng hộ họ, thông qua các web site, các blog của cá nhân họ dưới mọi hình thức để các blogger sống và viết những điều họ muốn, sự giúp đỡ đó có thể là đặt quảng cáo cho sản phẩm hay doanh nghiệp, ủng hộ tài chính hay chỉ dù tối thiểu là những lần ta ghé thăm thường xuyên trang blog của họ nó cũng mang lại cho họ chút niềm vui và sự tin tưởng về tương lai của họ. Chúng ta không cần giúp họ để làm giàu nhưng phải giúp cho họ và gia đình đủ sống đàng hoàng, còn về phía họ, những nhà báo đó họ sẽ tự biết họ sẽ phải làm gì, viết gì mà không bị chính quyền sờ gáy, hoặc gây khó khăn cho gia đình và bản thân. Thế là đủ, nếu làm được việc đó là ta đã bắn một mũi tên trúng hai, ba đích, vừa tiêu hao sinh lực của đội bạn, vừa kích thích những tiếng nói đối lập dám lên tiếng. Nếu làm được điều đó, chắc chắn chỉ một thời gian ngắn số lượng các bloggers trong nước tham gia sẽ có số lượng không nhỏ, khi đó cái gì sẽ xảy ra?
Chắc chắn, chúng ta sẽ phá vỡ và làm càng suy yếu thế độc quyền của nền báo chí độc tôn của chính quyền, đó là một việc làm cần thiết và cấp bách. Được gác lại những nỗi âu lo về cơm áo, gạo tiền để có thể dám viết ra những điều mình trăn trở, đây là điều mà các blogger tự do trong nước vốn rất nặng lòng suy tư, xong vì hai chữ thể diện và danh dự của mình mà họ đã rất ngại không dám nói ra nhưng suy nghĩ như vậy.
Các bạn đã sẵn sàng dành sự ủng hộ của mình cho những bloggers tự do đang ở Việt Nam, đang mong muốn được viết những điều họ còn nhiều trăn trở về đất nước, xã hội và cuộc sống hiện tại một cách tự do mà không bị chút bó buộc nào như blogger Trương Duy Nhất hay chưa?
Xuân đỉnh, 29 tháng Chạp - ngày giáp Tết Tân Mão
Subscribe to:
Posts (Atom)

